Search This Blog

Sunday, September 23, 2012

Thiền là một phương pháp tự chữa bệnh

Email In PDF.
Lương y Võ Hà

Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.

Nguồn gốc của Thiền


Từ Thiền của Việt nam hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ "Ch’an" của Trung hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức… Vào giai đoạn này, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ "Meditation" để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn “Mederi" với từ "Medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.


Thiền là liệu pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể


Đối với y học phương Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh chỉ được Cullen nói đến vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm 1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống Stress ở Montreal, Canada đã chính thức dùng thuật ngữ Stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây, trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, lại là những người có khuynh hướng duy tâm, thường hướng nội và phản quán, các nhà y gia cổ đại của phương Đông đã sớm nhận ra ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người. Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh đã ghi nhận "bách bệnh giai sinh vu khí".

Người xưa cho rằng những cảm xúc thái quá sẽ làm rối loạn khí hóa của những tạng phủ tương ứng và qua mối quan hệ sinh khắc sẽ dẫn đến sự mất quân bình của cả hệ thống. Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những bệnh về nội thương. Ví dụ những người quá suy tư căng thẳng thường ăn uống kém ngon, dễ rối loạn tiêu hóa. Điều này xảy ra vì sự suy tư quá độ làm ảnh hưởng đến khí hóa của tỳ vị vì "Tư thương Tỳ". Hơn nữa, sự căng thẳng lâu ngày làm Can khí uất kết có thể dẫn đến loét dạ dày, tá tràng, triệu chứng mà Đông y thường gọi là "Can phạm Vị". Đôi khi những rối loạn khí hoá do cảm xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh lý có thể thấy được ngay. Thử quan sát một người đang bộc phát cơn tức giận. Toàn thân nóng lên, mồ hôi vả ra, nhịp tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như căng lên. Ở một số người khác cơn nóng giận có thể làm cho toàn thân ngứa ngáy, đau thắt ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao tử. Đó là một trường hợp điển hình về rối loạn khí hóa do cảm xúc. Trong trường hợp nêu trên, Đông y cho rằng “Nộ thương Can", sự tức giận đã làm cho Can khí nghịch hành, dẫn đến các triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh, thuộc Dương chứng. Trên thực tế, nếu bản thân không có các bệnh thực thể gì khác, chúng ta chỉ cần thực hành thư giản để sơ tiết Can khí hoặc chú tâm quan sát hơi thở vào và ra để đạt đến tâm bình, khí hoà hoặc chuyển tâm nghĩ đến một sự kiện vui vẻ đã xảy ra trong đời để khí của mẹ là Can Mộc được tiết bớt sang cho con là Tâm Hỏa (sự vui vẻ thuộc Tâm Hỏa và Mộc sinh Hỏa) thì các triệu chứng trên sẽ tự biến mất. Đó là ví dụ về những cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ bản thân.

Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư đại học Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind-Body Medical Institute) cho biết "từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên quan đến Stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể". Ông cho rằng các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa các nội tiết tố Stress.


Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt của thuật ngữ "Mindfulness Based Stress Reduction", tạm dịch là "giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác". MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.


Thiền là một liệu pháp chỉnh thể


Thiền là một truyền thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy đủ tính chất “chỉnh thể" và "Trời người hợp nhất" của nền y học cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể. Chẳng hạn, ở một bệnh nhân loét dạ dày, liệu pháp chỉnh thể sẽ lưu ý giải quyết tình trạng thấp nhiệt ở dạ dày hoặc căng thẳng tâm lý trong sinh hoạt để cải thiện khí hoá ở Tỳ vị hơn là cố tìm một loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn gây loét. Ở những chứng viêm mũi mãn tính, Đông y cho rằng do Âm hư gây ra Hỏa vượng. Do đó cách chữa phải đặt nặng việc bổ thận để nạp khí, bổ Âm phải tàng Dương, hơn là chỉ dùng những chất hàn lạnh để trừ hư Hỏa. Dù hư Hỏa có tạm được khống chế nhưng nếu làm trầm trọng thêm sự mất quân bình Âm Dương hoặc suy sụp thêm sức đề kháng thì bệnh không thể dứt được… Nói chung, theo quan điểm này thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác. Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.


Nói chung trong quá trình hành Thiền, "thần tĩnh tức âm sinh", tâm không duyên ra ngoài sẽ giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với tinh thần "nhiếp sinh" của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những điều kiện thay đổi của môi trường sống.


Liệu pháp Thiền và những suy nghĩ tích cực


Khi xem một vở kịch tốt hoặc một phim hay, trong những lúc cao trào, ta thường bị thu hút vào vở diễn hoặc vai diễn. Thương cảm, rơi lệ hoặc bức xúc, tức giận,… Trong những phút giây đó, không chỉ người diễn viên mà cả người xem đều đã như hóa thân thành một người khác chứ không còn là người diễn viên hoặc bản thân chúng ta của những lúc bình thường. Những truyền thống tư tưởng phương Đông đều quan niệm thân và tâm là một thể thống nhất. Suy nghĩ và cảm xúc luôn tác động đến phần thể xác. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn cả nhận thức và từ nhận thức sẽ dẫn đến hành động. Chính những cảm xúc và nhận thức lâu ngày đã hình thành nên tập tính và tình trạng sức khỏe ở mỗi người. Do đó có thể nói mỗi người chính là những điều mà người đó suy nghĩ. Mỗi người trong chúng ta vì những lý do khác nhau đã vô tình bị tập nhiễm một số hành vi mà chúng ta không muốn nhưng đã không thể cưỡng lại được. Kỹ thuật tự ám thị (auto-suggestion) thông qua thiền định có thể giúp cải thiện tình trạng này. I.P. Paplov một nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã chứng minh rằng mọi phản xạ thần kinh dù cao hay thấp, mọi thói quen, quá trình rèn luyện, học tập, lao động đều là những quá trình hình thành nên những phản xạ. Trong hành Thiền, việc hóa thân, việc đồng nhất hóa với một sự vật mới, một ý niệm mới hoặc một con người mới đã được tái hiện liên tục và nhiều lần trong một điều kiện tâm lý đặc biệt. Điều kiện tâm lý đặc biệt chính là tình trạng thư giãn hoặc nhập tĩnh khi mà não trở nên nhạy cảm khác thường trong việc tiếp nhận và hoạt hóa những thông tin liên quan, đến những ý niệm hoặc hình ảnh được gợi ra. Nói cách khác, khi ở vào tình trạng thư giãn ta có thể dùng lời nói hoặc những hình ảnh tưởng tượng thích hợp để cải thiện những tình trạng tâm lý hoặc vật lý của cơ thể, những điều mà trong điều kiện bình thường ta không thể thực hiện được. Hiệu ứng này thường được vận dụng trong các phương pháp dưỡng sinh, khí công, thôi miên, tự ám thị và cả trong nhiều nghi thức tôn giáo. Ví dụ, bình thường ta không thể ra lệnh hoặc tự nhủ để nhịp tim chậm lại hoặc huyết áp giảm xuống. Tuy nhiên, trong điều kiện thư giãn hoặc lúc thiu thiu ngủ nếu ta "thấy" hoặc "nghĩ" rằng tim đang đập chậm lại hoặc huyết áp đang hạ xuống thì tần số tim sẽ giảm và huyết áp sẽ hạ. Hãy lưu ý từ "thấy" mà không phải là "nhìn". Từ "thấy" hoặc "nghĩ" ở đây hàm nghĩa không có sự phân tích hoặc cố gắng về mặt ý thức. Đây là một nguyên tắc quan trọng của Thiền cũng như của sự tự ám thị. Nguyên tắc này có thể được gọi một cách vắn tắt nhưng khá chính xác là sự tập trung không căng thẳng. Tập trung vào một từ khóa, một câu ám thị, hoặc một cảnh vật… nhưng phải ở trong điều kiện tĩnh lặng và không căng thẳng. Chính sự tĩnh lặng và không căng thẳng giúp duy trì tình trạng nhập tĩnh đồng thời nâng cao tính nhạy cảm trong việc tiếp nhận và hình thành nên những cung phản xạ mới. Về mặt khoa học, nhập tĩnh ứng với tình trạng cơ bắp thư giãn hoàn toàn và sóng não hạ thấp từ nhịp Beta nhanh và không ổn định xuống nhịp Alpha hoặc Theta chậm và ổn định hơn. Trong điều kiện này bất kỳ sự căng thẳng nào kể cả sự căng thẳng của quá trình chú ý (chẳng hạn phân tích, lý luận về vấn đề đang chú ý) đều sẽ làm thay đổi sóng não và phá vỡ sự nhập tĩnh. Chính sự tự ám thị trong điều kiện thư giãn hoặc gần nhập tĩnh giúp thúc đẩy nhanh quá trình hình thành nên những cung phản xạ mới cho yêu cầu chữa bệnh hoặc cải thiện hành vi, nhân cách. Ở nhiều bệnh nhân mắc những bệnh mãn tính đã trãi qua điều trị lâu dài, tính trầm trọng không phải ở chính căn bệnh mà ở tâm lý chán nản, trầm uất. Tâm lý này phát xuất từ suy nghĩ mình là gánh nặng của gia đình hoặc do thiếu niềm tin vào thầy, vào thuốc. Yêu cầu điều trị trong những trường hợp này là phải giải tỏa được trầm uất và tăng cường niềm tin sẽ khỏi bệnh. Đó là lý do tại sao thiền và những suy nghĩ tích cực lại hữu hiệu trong hầu hết những bệnh kinh niên. Với liệu pháp thiền, có thể nói người bệnh chính là thầy thuốc và sức miễn dịch được nâng lên chính là thuốc chữa bệnh.


Sau đây là một vài thí dụ về sự phối hợp giữa thư giãn & Thiền và những suy nghĩ tích cực.


Để đạt được mục đích thư giãn và bình an cho tâm trí, người tập có thể nghĩ đến những cảnh quang mà mình ưa thích hoặc đã từng trãi qua. Rừng thông bạt ngàn, gió thổi vi vu. Bãi cát trắng xóa, sóng biển nhấp nhô. Cánh đồng lúa rì rào, gió thổi mơn man. Cảnh núi non hùng vĩ, thác nước trắng xóa,… Nằm hoặc ngồi thoải mái ở một nơi yên tĩnh, thoáng mát. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa, thì thở ra chậm và dài hơn thì hít vào. Tập trung tư tưởng nghĩ đến cảnh quang đã định. Hình dung rõ ràng quang cảnh như đang hiện ra trước mắt mình. Lặng lẽ quan sát để từ từ tiến đến dung hợp giữa người và cảnh, thấy mình hòa tan vào cảnh hoặc quên đi bản thân mình.


Để gia tăng nội khí hoặc để điều trị các chứng hư Hỏa gây căng thẳng, nhức đầu, khó ngủ, hồi hợp,… có thể tập trung vào bụng dưới. Ngồi bán già hoặc kiết già. Lưng thẳng. Eo hơi thót lại. Cằm hơi thu vào. Đầu lưỡi chạm nướu răng trên. Buông lỏng phần vai và hai tay. Mắt khép nhẹ. Hít thở điều hòa. Tập trung tâm ý quán tưởng khắp chung quanh mình đang có gió nhẹ thổi vào vùng bụng dưới.


Để chữa bệnh, trị đau nhức, để làm tan một chỗ bị sung huyết hoặc một tổ chức bị u xơ, có thể quán hơi thở vào và ra. Hít vào sâu đến bụng dưới. Thở ra chậm, nhẹ và đều. Trong lúc thở ra tập trung ý quán một luồng trược khí màu xám từ chỗ bị đau theo hơi thở thoát ra các đầu ngón chân (nếu ở vùng hạ thể) hoặc đỉnh đầu, hoặc những đầu ngón tay (nếu ở vùng thượng thể). Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng vật lý của những suy nghĩ tích cực. Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của Bác sĩ Carl Simonton về điều trị ung thư. Ông hướng dẫn cho bệnh nhân thư giãn và hình dung những bạch cầu của họ là những chiến sĩ "tìm và diệt". Đội quân dũng mãnh đã chiến đấu, chiến thắng và mang đi các tế bào ung thư đã chết. Công trình nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho kết quả 25% hoàn toàn khỏi bệnh, 30% ung thư ngừng phát triển, và ở 10% khác khối u ung thư bắt đầu nhỏ dần.


Ông Emile Coue (1857-1926), một chuyên gia điều trị tâm lý người Pháp là người đã từng hướng dẫn và điều trị cho hàng chục ngàn bệnh nhân bằng phương pháp ám thị và tự ám thị. Đến với ông có thể là những người bị mất ngủ, hoảng loạn, nói lắp, nghiện thuốc, béo phì, động kinh, suyển và cả những bệnh nhân tim mạch, tiểu đường, u xơ, viêm khớp. Ông đã đề xuất một công thức ám thị đơn giản chung cho nhiều trường hợp khác nhau, để điều chỉnh hành vi hoặc để thay đổi những điều kiện tâm lý, vật lý cho việc cải tạo sức khỏe. Nguyên văn câu ám thị là "Tous les jours a tous points de vue, je vais de mieux en mieux" đã được chuyển sang Anh ngữ “Day by day, in every way, I am getting better and better", tạm dịch "Mỗi ngày qua, tôi tốt đẹp hơn lên về mọi phương diện". Ông khuyên người bệnh thực hành ám thị hai lần mỗi ngày. Mỗi lần tự nhẩm 20 lần câu ám thị nêu trên. Cần làm một xâu chuỗi có 20 hạt để lần chuỗi tương ứng với 20 lần nhẩm niệm. Việc lần chuỗi vừa bảo đảm đủ số cần niệm, vừa có tác dụng tạo thêm phản xạ có điều kiện cho những lần sau. Thực hành lúc vừa thức dậy, sắp sữa xuống giường và liền trước khi nằm xuống ngủ. Đây là những lúc mà chúng ta còn ngái ngủ hoặc buồn ngủ. Do đó khi đã nhắm mắt và tập trung vào câu ám thị thì tâm chỉ tồn tại có ý niệm đó, những tạp niệm rất khó xen vào. Về mặt thần kinh, những thời điểm này gần giống như lúc chúng ta luyện tập thư giãn hoặc chuẩn bị nhập tĩnh nên cũng là lúc tốt nhất để tiếp nhận những thông tin tích cực cho việc tạo nên những cung phản xạ mới.


Lưu ý


Kết quả hành Thiền sẽ khác nhau do khả năng tập trung tư tưởng của mỗi người. Điều này tùy thuộc vào căn cơ và các điều kiện trợ duyên khác như chế độ ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp… Thiền được xem là một liệu pháp bổ sung được dùng song hành với các biện pháp chữa bệnh chính thống khác. Do đó việc gia giảm hoặc thay thế các loại thuốc trong việc điều trị phối hợp với Thiền cần theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 13 Tháng 7 2010 10:40 )



Thiền tập trong ngành Tâm lý trị liệu của Hoa Kỳ


Nguồn :http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/phat-giao-khoa-hoc/6468-thien-tap-trong-nganh-tam-ly-tri-lieu-cua-hoa-ky.html


Dưới đây là những trình tự mà Bác sĩ Herbert Benson cũng như nhiều bác sĩ khác đã dựa theo kinh điển của Thiền Phật giáo hướng dẫn những bệnh nhân của họ thực tập trong khi thí nghiệm bằng những dụng cụ y học:
1. Hãy chọn một chữ hay một câu ngắn đầy đủ ý nghĩa phát xuất từ đức tin của mình để thầm niệm trong khi ngồi thiền (nếu là Phật tử thì hãy chọn một câu thần chú hay danh hiệu của một đức Phật hay Bồ-tát).

2. Ngồi một cách yên lặng trong một tư thế tự nhiên, bất cứ tư thế nào mà mình cảm thấy thoải mái (nếu là Phật tử thì hãy ngồi trong tư thế bán già hay kiết già).

3. Khép mắt lại một cách tự nhiên (không cần nhắm kín, nên mở mắt chừng 3/10).

4. Để cho các bắp thịt thoải mái bằng cách buông thả –  không gắng gượng trong khi ngồi – và mặc áo quần rộng rãi.

5. Hít vào và thở ra thật đều và thật sâu trong khi đó lặp lại câu (thần chú) mình đã chọn.

6. Đừng để tư tưởng phóng ra ngoài vì bất cứ một điều gì. Giữ sự bình thản nhẹ nhàng và theo dõi hơi thở, chú ý vài điều đang lặp lại.

7. Tiếp tục như trên ít nhất từ 10 đến 20 phút.

8. Thiền tập thường xuyên mỗi ngày hai lần.

Nên nhớ rằng trong khi thiền tập theo những phương pháp trên đây đừng có ý niệm mong cầu cho một sự bình an hay chứng ngộ. Hãy thực tập như sự cần thiết của thức ăn cho cơ thể. Có như vậy chúng ta mới tự thân chứng nghiệm lời Phật dạy cũng như những lời tuyên bố của các bác sĩ trong ngành Tâm lý trị liệu Hoa Kỳ.


Thích Hạnh Tuấn


20 năm sau, di sản âm nhạc của Michel Berger 
nguồn : RFI VIET ,  thứ sáu 10 Tháng Tám 2012 

Tác giả Michel Berger 1947 - 1992 (DR)
Tác giả Michel Berger (28 November 1947 – 2 August 1992 , tên trên khai sanh là Michel Jean Hamburger) .

Tuấn Thảo
Cách đây vừa đúng 20 năm, vào đầu tháng 8 năm 1992, ca sĩ kiêm tác giả Michel Berger đột ngột từ trần trong lúc đi nghỉ mát với gia đình ở miền nam nước Pháp. Theo lời kể của người thân, anh đột qụy do đứng tim sau khi chơi quần vợt với bạn. Michel Berger ra đi quá sớm, chỉ ở tuổi 44.
Nhân dịp 20 năm ngày giỗ của anh, nhà xuất bản Don Quichotte đã cho phát hành quyển tiểu sử mang tựa đề Quelque chose en nous de Michel Berger của nhà báo Yves Bigot. Quyển sách này lấy lại cái tựa rất quen thuộc của một bài hát nói về Tennessee Williams mà sinh thời Michel Berger đã viết cho nam ca sĩ Johnny Hallyday. Một cách bất ngờ, Michel Berger đã vĩnh viễn ra đi, để lại gần 350 ca khúc mà anh đã sáng tác cho vợ là France Gall, cho chính mình và cho nhiều nghệ sĩ khác.
Ngoài là nhà báo, tác giả Yves Bigot còn là giám đốc chương trình của đài phát thanh RTL. Thời Michel Berger còn sống, ông là giám đốc điều hành hãng đĩa Mercury, thường xuyên lui tới cặp vợ chồng nghệ sĩ France Gall - Michel Berger. Do vậy mà quyển sách tiết lộ nhiều chi tiết hấp dẫn, vén màn hậu trường sân khấu. Chẳng hạn như France Gall và Michel Berger đã gặp nhau trong hoàn cảnh nào.
Michel Berger từ trần, để lại nhiều dự án dở dang, trong đó có kịch bản phim (mà anh đang viết với tác giả Jacques Kerchache). Ngoài ra còn có một số ca khúc tiếng Anh mà anh đang soạn cho một cô gái trẻ tuổi (Barbara Grimm). Theo Yves Bigot, cô gái này là người yêu mới của Michel Berger. Tuy còn làm việc chung với France Gall, nhưng có thể nói là cặp vợ chồng này sau gần 20 năm chung sống, trong thực tế đã ly thân. Trả lời phỏng vấn đài RFI, tác giả Yves Bigot trước hết nói về vị trí của Michel Berger trong làng nhạc Pháp.
Michel Berger đã hiện đại hóa lối sáng tác ca khúc tiếng Pháp, ngay từ năm 1972 với tập nhạc Amoureuse, mà anh thực hiện phần hòa âm phối khí cho nữ ca sĩ Véronique Sanson. Hai nghệ sĩ này đột ngột chia tay nhau mà không một lời giải thích. Vào thời đó, album này có sắc thái âm thanh mới lạ, chủ yếu vì Michel Berger hấp thụ ảnh hưởng của các nghệ sĩ Anh Mỹ, giúp cho nhạc nhẹ trở nên tân kỳ hơn.
Có thể nói là nhờ Michel Berger, mà hai thần tượng nhạc trẻ những năm 1960 là France Gall và Françoise Hardy tiếp tục thành công trong giai đoạn thứ nhì của sự nghiệp. Theo Françoise Hardy, Michel Berger có cái tài soạn giai điệu, mà ít có tác giả nào cùng thời sánh bằng. Số lượng ca khúc ăn khách mà anh đã viết lên đến hơn 50 chục bài, chỉ riêng trong những năm 1980, trong đó có một nửa là do France Gall trình bày.
Michel Berger cũng như Serge Gainsbourg đã mở đường cho nhiều nghệ sĩ (tiêu biểu nhất là Jean Jacques Goldman và Pascal Obispo) lối sáng tác gần gũi với phong cách của người diễn đạt nhưng đồng thời giúp cho ca sĩ thay đổi hình ảnh của họ. Michel Berger cũng là một trong những người đầu tiên từ cuối những năm 1970, đặt nền móng cho phong trào ca nhạc kịch gọi là opera rock ở Pháp. Nhờ vào tầm nhìn xa, mà vở ca nhạc kịch Starmania mà Michel Berger đã sáng tác cùng với Luc Plamondon cho tới nay vẫn mang tính thời sự.
Sinh trưởng  trong một gia đình trí thức và giàu có : thân phụ là một bác sĩ nổi tiếng (ông Jean Hamburger là người đầu tiên vào năm 1952, thành công trong việc ghép thận), còn thân mẫu là một nghệ sĩ dương cầm cổ điển (bà Annette Haas), Michel Berger từ thuở thiếu thời học rất giỏi : đậu bằng tú tài năm 16 tuổi, tốt nghiệp đại học năm 20. Nhưng đam mê đầu đời của Michel Berger vẫn là âm nhạc : anh ra mắt đĩa hát đầu tay lúc anh mới 15 tuổi, và luận án tiến sĩ của anh mang tựa đề Thẩm mỹ trong nhạc pop. Tác giả Yves Bigot nhận xét :
Michel Berger được xem như là em út, vì anh nhỏ tuổi hơn các ca sĩ thuộc phong trào nhạc trẻ những năm 1960, thời của chương trình Salut les Copains. Anh ghi âm bài hát đầu tay vào năm 1963 (Michel Berger lúc đó mới 15 tuổi), cùng lúc với các nghệ sĩ như Françoise Hardy, Sylvie Vartan và Johnny Hallyday. Chính cũng vì thế mà anh có mặt trên bức ảnh chụp rất nổi tiếng (của Jean Marie Perrier) tập hợp tất cả các nghệ sĩ khởi nghiệp vào những năm 1960.
Nhưng 4 năm sau, Michel Berger tạm ngưng sự nghiệp ca hát, vì anh thấy rằng tài nghệ cũng như kinh nghiệm của anh còn quá non nớt so với các nghệ sĩ Anh Mỹ mà anh hằng ngưỡng mộ (tiêu biểu nhất là Ray Charles, Jefferson Airplanes Jimi Hendrix và nhóm The Beatles). Anh sang Mỹ một thời gian để học tập sáng tác. Trở về Pháp, anh làm việc cho một hãng phát hành đĩa nhạc (Pathé Marconi).
Chính trong chuyến đi Mỹ mà Michel Berger khám phá dòng nhạc funky soul của trường phái New Orleans, với lối nhấn nhịp rất đặc biệt trong tiết tấu, giai điệu. Gợi hứng từ đó, mà Michel Berger thay đổi phong cách sáng tác để cho ra đời hàng loạt ca khúc ăn khách từ đầu những năm 1970 trở đi.
Nhắc đến Michel Berger, thì ta liên tưởng ngay tới France Gall vì cô được xem như là nghệ sĩ ruột của tác giả, trình bày khá nhiều ca khúc của anh trước khi hai người thành vợ chồng. Báo chí đã thêu dệt mối tình của họ khá lãng mạn và thơ mộng. Nhưng thực tế không như vậy. Ông Yves Bigot cho biết hai nghệ sĩ này đã gặp nhau trong hoàn cảnh nào.
Ca sĩ France Gall tình cờ khám phá bài hát của Michel Berger, trước khi gặp mặt tác giả. Theo lời thuật lại, cô đang lái xe đến nhà một người bạn thì bỗng nhiên trên sóng radio có phát ca khúc Attends Moi (Hãy chờ ta) của Michel Berger. Khi nghe được bài này với giai điệu piano chậm rãi khoan thai, mang nhiều ảnh hưởng của Elton John, France Gall thật sự có cảm tưởng là bài hát nói lên tâm sự của chính mình, như thể tác giả thì thầm nhắn nhủ với cô một điều gì đó.
Bằng mọi cách, France Gall tìm gặp Michel Berger để thuyết phục anh sang tác cho mình. Như vậy, France Gall và Michel Berger gặp nhau trong hoàn cảnh nghề nghiệp. Từ chỗ làm việc với nhau lâu ngày, mới nảy sinh tình cảm quý mến nhau. Nhờ tác giả Michel Berger, mà France Gall đã thay đổi hình ảnh, mở ra một giai đoạn thành công thứ nhì, vì sau 10 năm tham gia phong trào nhạc trẻ, sự nghiệp của cô vào năm 1972 đang dẫm chân tại chỗ. Nếu không có Michel Berger, thì tài năng của cô sẽ khó mà có cơ hội tỏa sáng trong vòng hai thập niên liên tục cho đến ngày tác giả này đột ngột từ trần.
Hai mươi năm sau ngày nhạc sĩ Michel Berger qua đời, tác giả này đã để lại những gì ? Và trong số các nghệ sĩ trẻ tuổi của Pháp thời nay, gương mặt nào được xem như là người thừa kế xứng đáng hơn cả nhất. Nhà báo Yves Bigot cho biết như sau :
Các sáng tác của Michel Berger nhìn chung đa dạng và phong phú hơn nhiều so với cái hình ảnh mà người ta thường gán ghép cho anh. Khi nhắc tới anh, người ta thường nghĩ tới những bản nhạc ăn khách, ca từ dễ nghe, giai điệu dễ nhớ. Nhưng sáng tác của anh còn bao gồm nhạc phim (5 album), nhạc hoà tấu, nhạc thử nghiệm. Giới phê bình thường xếp anh vào hàng các tác giả nhạc nhẹ, mà lại chóng quên rằng anh gợi hứng từ các bậc thầy đến từ nhạc rock và nhạc soul.
Tại các nước Anh Mỹ, các nghệ sĩ rock có thể hát lại nhạc của Elton John, điều đó không thành vấn đề. Ngược lại tại Pháp, các nghệ sĩ chuyên hát ca khúc của Michel Berger thường là ca sĩ nhạc nhẹ, còn ca sĩ nhạc rock thì lại thiên về Alain Bashung. Trong số các nghệ sĩ trẻ tuổi của Pháp thời nay, thật ra thì không có ai là người thừa kế Michel Berger một cách trực tiếp. Một số nhà phê bình nhắc đến ca sĩ kiêm tác giả Benjamin Biolay, nhưng theo tôi nghĩ thế giới âm nhạc của Benjamin Biolay gần với Serge Gainsbourg nhiều hơn là với Michel Berger.
Thật ra có một gương mặt mà về tư tưởng và phong cách soạn nhạc, rất gần với Michel Berger. Đó là Daniel Balavoine. Nhờ vở kịch Starmania mà Daniel Balavoine sau đó rất nổi danh trong làng nhạc. Có thể nói là cả hai nghệ sĩ này đến từ cùng một gia đình, khác nhau hay chăng là ở chỗ tánh tình. Michel Berger trong sáng tác nhắm tới sự cân đối hài hoà, còn Daniel Balavoine thì lại muốn bày tỏ nhiệt huyết bồng bột của tuổi trẻ. Tuy nhỏ hơn Michel Berger 5 tuổi, nhưng Daniel Balavoine lại từ trần quá sớm do tai nạn, vào năm 34 tuổi. Nhưng có lẽ cũng vì thế mà họ có một chỗ đứng riêng biệt trong làng nhạc Pháp.
Vô Ngã Vô Ưu Hay Thiền Quán Về Phật  

nguồn : http://daitangkinhvietnam.org/phat-giao-va-doi-song/nep-song-dao/696-vo-nga-vo-u-hay-thin-quan-v-pht-o.html?start=1

Ðó chính là những lý do để giải thích tại sao cuộc đời ta sẽ không bao giờ đầy đủ nếu không có Thiền. Những lạc thú bên ngoài mà cuộc đời mang đến cho ta, không thể so sánh được với niềm vui nội tâm. Sự buông xả, không bám víu giúp chúng ta hiểu rằng "cái tôi" luôn đòi hỏi, do đó tâm luôn đòi suy tưởng. Khi ta ngưng mọi ham muốn, ta không cần phải suy nghĩ, vọng tưởng. Khi chúng ta ngưng đòi hỏi, tất cả mọi sự thất vọng, đau khổ đều biến mất. Ðó là lý do tại sao chúng ta cần phải tu tập Thiền.
Trước hết chúng ta phải chú trọng đến hơi thở ra, hơi thở vào nơi mũi. hơi thở là gió, nên khi gió vào hay ra, ta đều cảm thấy. Cảm giác đó giúp chúng ta chú tâm ở nơi mũi. Việc làm đó lúc đầu khó tránh khỏi khó khăn.
Hơi thở là mạng sống của chúng ta, vì thế còn gì thích hợp là dùng hơi thở để Thiền quán: Ta sống nhờ hơi thở, không thể tách rời khỏi nó giây phút nào. Vậy mà ít khi ta nghĩ đến nó. Ta quên khuấy nó, cho đến khi ta mất nó, nghẹt thở, chết đuối hay chết ngạt. Lúc đó ta mới thấy hơi thở quan trọng biết bao. Nhưng khi hơi thở còn ở với chúng ta, ta chẳng bao giờ nhớ tới, dầu hơi thở là sự sống còn của ta, là báu vật quý nhất của tất cả chúng ta. Hơi thở còn trực tiếp hỗ trợ cho tâm. Khi ta xúc động hay vội vã, hơi thở trở nên gấp rút. Khi tâm ta thanh tịnh, tĩnh lặng, hơi thở nhẹ nhàng, thanh thoát. Khi hơi thở trở nên mong manh đến nỗi khó tìm thấy, là khi chúng ta ở trạng thái Thiền định. Tập chú trọng vào hơi thở là phương pháp giúp chúng ta đạt đến trạng thái đó. Thở là một hành động vừa tự nhiên, vừa có thể được kiểm soát. Ta có thể làm cho hơi thở sâu, dài hay ngắn hay ngưng lại giây lát.
Có nhiều cách để chú tâm vào hơi thở. Ta có thể theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra khi ta chú tâm đến nó. Muốn thực tập phương cách này, không cần phải thay đổi cách thở chỉ im lặng theo dõi nó vào ra.
Hoặc tập chú tâm bằng cách kết hợp hơi thở với tụng niệm, thí dụ "Nam Mô". Nam khi hít vào, Mô khi thở ra.
Ta cũng có thể đếm một khi hít vào, một khi thở ra. Hai khi hít vào, hai khi thở ra. Không đếm dưới 5, không đếm quá 10. Khi đếm đến 10, lại bắt đầu trở lại một. Khi tâm lang thang, bắt đầu đếm lại 1. Lúc bắt đầu, nếu bạn không bao giờ đếm quá hai, đừng nản lòng. Hãy kiên trì thực tập.
Tất cả tâm đều giống nhau. Bạn không cần phải nghĩ: "Tôi không thể tập Thiền. Thiền không thích hợp với tôi." Nhưng "tôi" ở đây là ai? Nó chỉ là một tâm không kềm chế so với tâm đã được kềm chế. Một vận động viên có tập luyện sẽ chạy nhanh, chạy giỏi hơn người không tập. Thế thôi. Nếu không có sự cố gắng tập luyện, không thể bảo rằng: "Tôi vô dụng. Tôi không thể chạy nhanh".
Ðếm hơi thở, niệm chú, chú tâm ở hơi thở nơi mũi hay theo dõi hơi thở ra vào. Hãy thử xem phương pháp nào thích hợp với bạn, rồi giữ lấy phương pháp đó. Nếu bạn có thể tập chú tâm, bằng cách theo dõi hơi thở phồng lên xẹp xuống ở bụng thì cứ làm như thế. Chân xếp như thế nào để bạn có thể ngồi lâu. Lưng thẳng nhưng không gồng. Vai, bụng, và cổ cũng phải thư giãn, mềm. Khi bạn ngồi bị ngã chúi, hãy ngồi thẳng lại. Ðầu cũng phải giữ thẳng. Ngồi chúi, đầu gục xuống dễ làm ta buồn ngủ hơn là tĩnh tâm. Khi ngồi Thiền chúng ta cần phải hoàn toàn tỉnh giác.
Bạn sẽ thấy rằng không phải lúc nào tâm cũng trụ vào hơi thở, dù bạn tập bằng phương pháp nào: niệm chú, đếm 1-1, 2-2 hay chú tâm vào hơi thở ở mũi hay theo dõi hơi thở vào ra. Tâm vẫn lăng xăng, trừ khi bạn đã từng tập ngồi Thiền một thời gian dài. Vọng tưởng cuốn phim vẫn còn đó. Chỉ có cách là tập gọi tên các vọng tưởng, nhưng nếu gặp khó khăn, có thể đơn giản hóa bằng cách gọi chung chung như "tư tưởng", "hồi ức" "lầm lẫn", "dự tính" hay "nhảm nhí". Không quan trọng. Vì ngay lúc ta đặt cho vọng tưởng một cái tên, là lúc ta đã tách ta ra khỏi nó. Nếu không, bạn không phải là ngồi Thiền mà là ngồi suy nghĩ và bạn sẽ hoàn toàn bị dẫn dắt, lôi cuốn theo các suy tưởng của mình. Bạn sẽ lo cho con mèo bị nhốt ngoài cửa, lo không biết mấy đứa nhỏ ngủ chưa... Bất cứ gì, thì bạn đang lo nghĩ, dĩ nhiên tâm bạn sẽ tự bào chữa rằng: "Nhưng tôi cần phải biết những điều đó chứ". Khi tọa Thiền bạn không cần biết về vấn đề gì cả. Cuộc đời vẫn cứ tuần tự trôi đi, không cần đến sự lo lắng của chúng ta. Mỗi giây phút, nó đến rồi đi.
Khi vọng tưởng dấy lên, hãy nhìn thẳng vào nó, đặt tên cho nó. Trúng, sai không thành vấn đề. Khi một vọng tưởng đã được đặt tên, có nghĩa là ta có thể buông bỏ nó. Dần dần thói quen này sẽ được chúng ta áp dụng vào mọi phút giây tỉnh giác. Nhờ thế khi có những tư tưởng không trong sáng, ta có thể buông bỏ chúng. Bạn sẽ tập chỉ nghĩ đến điều mình muốn nghĩ, và khi làm được như thế, bạn sẽ không bao giờ thấy khổ đau nữa. Chỉ có kẻ khờ mới tự nguyện đau khổ.
Ðặt tên cho các tư tưởng, đó là cách giúp ta nhận biết vọng tưởng trong đời sống hàng ngày, nhưng khi ngồi Thiền ta gọi đó là sự tỉnh giác. Ðó là cách thực tập Chánh niệm. Ðức Phật nói: "Tỉnh giác là phương pháp duy nhất để giải thoát con người, giúp họ tránh thất vọng, bước vào con đường Giác ngộ, thoát khỏi khổ đau". Biết rằng "Tôi đang suy nghĩ. Tôi đang lơ đễnh, lo lắng, bứt rứt, mơ mộng về tương lai. Mong ước..." Chỉ nhận biết rồi trở về với hơi thở. Nếu bạn có hàng ngàn vọng tưởng, thì hãy nhận biết chúng hàng ngàn lần. Nhận biết sự dấy khỏi của vọng tưởng và nội dung của chúng. Ðấy là nền tảng của sự tỉnh giác một cách chủ động, con đường duy nhất đưa đến giải thoát - nếu ta thực sự thực hành chúng.
Cơ thể của chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu vì phải ngồi trong một tư thế không quen thuộc, và nhất là vì ta bắt nó phải ngồi yên. Thân không bao giờ thích phải ở yên một chỗ dù chỉ trong thời gian ngắn. Ngay như khi nằm trên chiếc giường êm ái, thoải mái, thân cũng lăn trở suốt đêm. Thân muốn di chuyển để thoát khỏi sự khó chịu, nên dù ta đang ngủ, thân vẫn chuyển động. Cũng thế, khi chúng ta ngồi Thiền, sự khó chịu dấy lên. Thay vì lập tức nghe theo thân, thay đổi thế ngồi như ta vẫn thường làm, thường phản ứng khi đau đớn, khó chịu dấy lên, hãy nhận biết nó. Quan sát cảm giác khó chịu từ đâu tới. Có phải vì sự tiếp xúc với gối, sàn nhà hay với chân kia. Từ sự tiếp xúc sinh ra cảm giác. Từ cảm giác dẫn đến hành động. (Ðây cũng chính là vòng luân hồi luẩn quẩn của chúng ta. Chính phản ứng của chúng ta đối với các cảm giác đưa chúng ta đến luân hồi sanh tử).
Chỉ có ba loại cảm giác: dễ chịu, trung tính, khó chịu. Ngồi Thiền gây cảm giác khó chịu, nên tâm lên tiếng:"Á, cảm giác khó chịu, đau đớn quá. Tôi không chịu nổi, tôi muốn thoát ra khỏi cảm giác này". Chúng ta sống, phản ứng như thế mỗi ngày, từ sáng đến tối, đều như thế. Bất cứ điều gì làm chúng ta khó chịu chúng ta chạy trốn, xua đuổi hay cố gắng thay đổi các nguyên nhân bên ngoài chúng ta. Bằng mọi cách chúng ta xua đuổi khổ đau. Nhưng sẽ không có cách gì làm được, trừ khi chúng ta dứt bỏ được lòng tham muốn. Bất cứ điều gì ta làm cho thân, xoay chuyển chiều nào rồi nó cũng sẽ khó chịu, vì sự thoải mái không thể kéo dài.
Hãy quan sát vòng lẩn quẩn đó: tiếp xúc, cảm giác, phản ứng. "Tôi cảm thấy đau. Tôi muốn chạy khỏi chỗ này". Nhưng thay vì chạy trốn, hãy đặt hết sự chú tâm vào nơi đang bị đau đớn, để cảm nhận sự thay đổi của nó. Bạn sẽ thấy cảm giác đau đớn hoặc là di chuyển đến nơi khác, hoặc là thay đổi cường độ. Cảm giác đó không phải là một khối đông đặc, nó di chuyển, nó đổi thay.
Hãy nhớ rõ rằng, cơ thể ta không có sự đau đớn, nhưng nó đang đau đớn. Chỉ có như thế ta mới hiểu sự thật về những đau đớn của con người. Không phải là thỉnh thoảng cơ thể ta mới bị đau đớn, khó chịu mà nó luôn luôn đau đớn khó chịu. Nó không thể nằm hay ngồi yên mà không cảm thấy khó chịu. Hãy nhận biết tánh vô thường đó. Hãy nhận biết tính chất khổ đau đã được ươm mầm trong cơ thể con người. Hãy nhận biết là cảm giác chúng tự đến, không có lời mời của chúng ta. Vậy tại sao gọi chúng là "của tôi"? Hãy nhận biết chúng từ các cảm giác khó chịu này, rồi thì chuyển đổi nếu cần, không phải là ngay lập tức. Chỉ chuyển đổi sau khi chúng ta đã quán sát tại sao cần làm vậy. Chuyển đổi nhẹ nhàng, đầy Chánh niệm để không làm phiền đến người chung quanh.
Cứ ngồi nguyên một chỗ cắn răng chịu đựng, và tự nhủ "Tôi sẽ ngồi nguyên bằng mọi giá. Tôi không chịu đựng nổi nữa, nhưng tôi vẫn cố chịu" không đem lại lợi lộc gì cho sự ngồi Thiền của chúng ta. Ðó là một phản ứng sai lầm không khác gì sự đầu hàng nhanh chóng. Một đằng là chạy đuổi theo sự thoải mái, đằng khác là sự bám víu vào khổ đau. Chúng chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Cách tốt nhất là làm sao hiểu rõ nội tâm, hiểu rõ hành động của ta, và như thế mới thật sự mang lại kết quả. Hãy tiếp xúc với tư tưởng và cảm giác khi chúng dấy khởi. Quan sát tính cách vô thường của chúng. Chúng đến, rồi chúng đi. vậy tại sao ta nhận chúng là mình? Ta có mời chúng không? Chắc chắn là không. Ta chỉ có ý định ngồi Thiền thôi phải không? Vậy tại sao tâm ta đầy những vọng tưởng? Chúng có phải là ta không? Chúng có phải là sự khổ đau không?
Vô thường, Khổ đau, và Vô ngã là ba đặc tính bao trùm vạn vật. Trừ khi ta nhận biết chúng từ trong tâm thức của ta, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu Ðức Phật nói gì. Thiền là phương pháp giúp ta hiểu ra điều ấy. Thiền là hành động. Còn lại tất cả chỉ là ngôn từ. (còn tiếp) .

Wednesday, September 19, 2012

Cắt gọt bớt vị trí đứng đầu cũa Apple (Paring Apple's lead) :
iPhone 5 gây chấn động (rock) , nhưng các đối thủ đang cãi thiện .

Nguồn : báo Time Sep 24 , 2012 .
Chuyến ngữ : Trần anh Tú . 

        I/ Khi iPhone cũa Apple đã vĩnh viễn tái định nghĩa phạm trù cũa điện thoại (redefined the handset category forever ) vào năm 2007 , các nhà sãn xuất khác đã đáp ứng theo một cách hình như hợp lý vào thời đó : họ đã cố gắng sãn xuất những mẩu điện thoại hết sức giống (an awful lot like) iPhone . Điều này không hữu hiệu/thành công lắm (work out so well) . Những mẩu điện thoại nhái iPhone (iPhonies) này tuy ko giống iPhone lắm nhưng cũng đũ (were mediocre but still similar enough) đễ hãng Apple kiện họ vi phạm bằng sáng chế , bao gồm vụ kiện khiến Samsung phải trả cho Apple 1,05 tỉ đô .
       Rồi nhanh như chớp đi tới (flash forward) năm 2012 . iPhone 5 (từ 199 đô cho 16GB tới 399 đô cho 64GB) , sẽ được bán ở cữa hàng (hit store) Apple và các tiệm bán lẽ vào ngày 21 tháng 9 năm 2012 , là một sự tiến hóa (evolution) cũa sãn phẩm , chứ ko phải là cuộc cách mạng . Apple cuối cùng đã làm màn hình lớn hơn một chút (a skosh) và có thêm mạng không dây tốc độ nhanh LTE (high-speed LTE data) , một đặc điểm mà Apple chần chừ mãi cho đến khi họ bão đãm có được loại pin với tuổi thọ tốt – tới 8 giờ khi dùng Internet . (4G LTE , còn gọi là dịch vụ không dây 4G LTE , là tiêu chuẩn mạng không dây tối tân nhứt hiện nay , nhanh hơn cã 4G ; LTE là chử tắt cũa Long Term Evolution/sự tiến hóa dài hạn .- Người dịch) .
        iPhone vẫn ko có đối thủ (peerless), nhưng sự cạnh tranh thì đang nhanh chóng cãi thiện . Những phone sắp ra như Nokia Lumia 820 và 920 không nhái (ape) Apple một cách trơ trẽn/ko biết xấu hổ như vậy (quite so shamelessly) . Thay vào đó , những công ty khác đang đầu tư vào kỹ thuật mà Apple chưa nhắm tới cũng như ko muốn nhắm tới (are venturing where Apple hasn't gone and might never go) .
        Một sãn phẩm nỗi bật (poster child) cho chiều hướng trái ngược này (for this contrarian approach) là : Samsung Galaxy Note II , sẽ ra cuối năm nay (due later this year) . Màn ãnh cũa nó to đến nổi cái phone này gần bằng túi áo (pocketable) , và nó kèm một cây bút , một đặc điễm mà Steve Jobs đã từng có câu nói nổi tiếng , đó là bằng chứng rằng các nhà thiết kế cũa một kiểu phone đã phung phí tiền bạc (để thiết kế nó) (blew it) .
       Không loại phone nào sẽ lật đỗ chiếc iPhone thần tượng (iconic) này chĩ bằng những đặc điễm . Điều mà Apple làm tốt là đã hòa trộn/kết hợp (meld) phần cứng , phần mềm và dịch vụ để thành một trải nghiệm tuyệt hảo , không có gì đễ chê trách (beautifully seamless experience) . Các công ty khác ko làm như vậy được (haven't come close) , một phần vì họ phải dùng hệ điều hành cũa Google hay Microsoft thay vì tự viết (hệ điều hành) cho sản phẩm cũa họ . Tuy vậy , iPhone sẽ có một điều mà các tiền bối (predecessor) cũa nó ko có : một rừng những đối thũ có cùng mục tiêu (a bevy of interesting rivals) .

II/Các đặc điễm cũa iPhone 5 :
1/Mạng ko dây LTE 4 G , là tiêu chuẫn đã dùng ở các phone khác , nay mới có trên iPhone 5 .
2/ Apple có ứng dụng (app) riêng về bãn đồ , vừa cung cấp sự chĩ đường và hình ãnh 3-D độc đáo (amazing) .
3/ Sổ mật mã (passbook) : lưu trử dưới dạng kỷ thuật số các thứ như vé máy bay, thẻ VIP (royalty card) và những thứ khác .
4/ Màn hình 4-in : phone này dài hơn iPhone 4S nhưng ko to hơn , khiến nó vẫn nằm gọn trong tay .
5/ Màn ãnh (camera) thông minh hơn : chụp ãnh tốt ngay cã khi ánh sáng ko đũ (low light) .
6/ Thon gọn hơn (svelter) : với độ dày 7.6 mm và nặng 3.95 oz (111,98 gram) , nó là iPhone mõng và nhẹ nhất.


III/ Những điện thoại tốt cuã các hiệu khác : 
1/Motorola Droid Razr Maxx nói pin cũa họ kéo dài tới 32 giờ cho mổi lần 'xạc' , nhờ cục pin to đùng .
2/Nokia Lumia 820 và 920 dùng kỷ thuật dòng điện cãm ứng (inductive technology) cho phép bạn 'xạc' các phone này mà ko cần cắm điện .
3/ Samsung Galaxy S III dùng một chip NFC cho phép bạn chuyển hình và những thứ khác (từ phone này sang các phone khác cũa Samsung ) bằng cách vỗ nhẹ một cái (tap) lên phone .
4/ Samsung Galaxy Note II : có kèm một cây viết để ghi chú và vẽ phác (sketch) lên màn hình 'khũng' 5.55-in cũa nó .
5/ HTC One V : có một chương trình 50 đô trả trước (gồm voice và data) , có tên Cricket's Muve , cho điện thoại này và các kiểu khác đễ bạn tha hồ tải nhạc ko hạn chế (throws in music downloads) . 

San Jose ngày 19.09.2012 lúc 00:01 am . 

Monday, September 17, 2012


LỜI PHẬT DẠY .

    Không tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì bạn nghe nói tới điều đó (you have heard it) .
    Không tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được nói (it is spoken) , hay đồn đại (rumoured) bởi nhiều người .
    Không tin tưởng vào bất cứ điều gì bởi vì điều đó được viết trong các sách của tôn giáo của bạn (found written in your religious books) .
   Không tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn thuần (merely) vì được nói bởi các sư phụ (teachers) hay huynh trưởng (elders) của bạn .
    Không tin tưởng vào những truyền thống (tradition) bởi vì những truyền thống đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ (have been handed out for many generations) .
    Nhưng chỉ sau khi quan sát và phân tích , khi bạn thấy bất cứ điều gì hợp với lẽ phải (reason) và điều này dẫn tới (conductive) điều tốt (the good) và ích lợi (benefit) cho mọi người (of all and all/everyone) , khi ấy bạn hảy chấp nhận và sống với điều đó (accept and live up to it) . 
Nguồn : quyển Mindfullness-Based Cancer Recovery của Linda Carlson , Ph.D. , R.Psych và Michael Speca , Psy.D. , R. Psych. Lời mở đầu của Zindel Segal , Ph.D.  Dày 187 trang . Xuất bản năm 2010 bởi Nhà xuất bản New Harbinger Publications , Inc. .
Nhận xét :  dù Phật sống cách đây trên dưới 2.500 năm (563 - 483 trước công nguyên) nhưng tư tưởng trên đây của ngài rất hợp với tinh thần khoa học ngày nay .  

Sunday, September 16, 2012

Phương hướng cũa đạo Phật (The Way of the Buddha)

Dịch từ nguyệt san National Geographic tháng 12 , 2005 .

          Tôn giáo đứng hàng thứ 5 trên thế giới , đạo Phật đã có sự hiện diện ngày càng lớn mạnh ở phương Tây trong những thập niên gần đây . Phương cách (approach) thiền định “chánh niệm” (mindful) đối với cuộc sống đã giúp giải quyết sự rối loạn (turmoil) hàng ngày cũa thế kỷ 21 . Các trung tâm Phật giáo tại nhiều thành phố và thị trấn đang cung cấp sự hướng dẫn về kỹ thuật thiền định và làm thế nào hợp nhất (incorporate) những giáo lý (tenet) cũa Bát Chánh Đạo cũa đức Phật vào cuộc sống hàng ngay . Phần lớn các trung tâm này chào đón mọi người từ mọi tôn giáo và truyền thống tâm linh (spiritual traditions) .
          Những cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy những bịnh liên quan đến stress (stress-related) như bịnh tim mạch (cardiovascular) và cao huyết áp có thể giảm bớt nhờ thiền định . Một cuối tuần ở một trung tâm thiền cũa Phật giáo giúp ta có nhiều thời gian để thiền định , ăn thức ăn hợp với sức khỏe (healthy foods) , và thường giúp ta tránh được nhịp độ (pace) cũa cuộc sống hiện đại . Một vài trung tâm còn cấm nói chuyện , như thế những chuyện vãng/chuyện tầm phào/chatter ko ãnh hưỡng (disturb) đến sự tĩnh lặng (cũa trung tâm) .
           Trong khi thiền định là một khía cạnh (aspect) cũa đạo Phật , việc phụng sự xã hội đầy tính từ bi (compassionate social engagement) là một khía cạnh khác . Các tổ chức Phật giáo cung cấp nhiều cơ hội để các người tình nguyện làm nhiều việc từ giúp đỡ bịnh nhân viện dưỡng lảo đến dạy học trong tù . Để biết thêm về những tổ chức này và những trung tâm Phật giáo tại địa phương cũa bạn , xin vào buddhanet.net/worlddir.net.htm