" TÔI LÀM VIỆC NHƯ LÀ TÔI SẼ SỐNG 100 NĂM VÀ TÔI SỐNG NHƯ LÀ TÔI SẼ CHẾT VÀO NGÀY MAI " . RUDY PEREZ , NHẠC SĨ NỖI TIẾNG NGƯỜI MỸ GỐC CUBA .
Search This Blog
Showing posts with label ABC VỀ THIỀN. Show all posts
Showing posts with label ABC VỀ THIỀN. Show all posts
Saturday, December 17, 2016
Nhãn:
ABC về đời là vô thường,
ABC về luân hồi,
ABC VỀ THIỀN,
ẢNH CÁ NHÂN GIA ĐÌNH VÀ BÀ CON,
chụp tại TTHL Quang Trung
Thursday, September 15, 2016
KHÁI NIỆM "TRẢ NỢ DỒN" .
Theo Numerology cũng như Phật giáo , trả nợ dồn là trường hợp bạn có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ trong các kiếp trước , tới kiếp này bạn quyết định TRẢ DỨT ĐIỂM để kiếp sau có cuộc sống thanh thản .
Cũng giống như 1 người buôn bán , trong tháng cuối cùng của năm , y chạy ngược chạy xuôi để trả hết nợ để năm tới y được thanh thản vì hết nợ .
Một ví dụ khác : một học sinh suốt năm học mãi mê chơi bời , sắp tới ngày thi y quýnh quáng học ngày học đêm để có thể thi đậu .
Theo Numerology , những người sanh ngày 4 , 8 , 13 , 17 , 22 , 26 , 31 hay có tên cộng lại bằng các số này ĐỀU NGHĨ RẰNG họ đã có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ từ các kiếp trước , nay trong kiếp này quyết định trả hết ; nghĩa là sẽ chấp nhận mọi đau khổ , nhục nhã , chửi bới , v.v... để kiếp sau được thanh thản .
Tôi biết 1 cô sanh ngày 13 , có tên cộng lại cũng bằng 13 , lúc khoảng 13 tuổi bị tai nạn xe cộ gây tàn phế gần như vĩnh viễn . Cha mẹ y quá đau khổ : dựa vào Numerology tôi giải thích , do y đã chọn kiếp này để trả nợ dồn nên y đã chấp nhận mọi đau khổ do tàn phế gây ra cũng như chế nhạo , nếu có , của một số người khi thấy y bị tàn phế như vậy . Tôi khuyên gia đình nên động viên y để cố gắng chịu đựng đau khổ cũng như mọi chế nhạo .
Năm 1975 , cũng bằng 4 vì 1 + 9 + 7 + 5 = 22 = 4 = trả nợ dồn . TT Thiệu , TT Khiêm , tướng Phú đều có tên bằng 13 ; còn tiếp .
Theo Numerology cũng như Phật giáo , trả nợ dồn là trường hợp bạn có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ trong các kiếp trước , tới kiếp này bạn quyết định TRẢ DỨT ĐIỂM để kiếp sau có cuộc sống thanh thản .
Cũng giống như 1 người buôn bán , trong tháng cuối cùng của năm , y chạy ngược chạy xuôi để trả hết nợ để năm tới y được thanh thản vì hết nợ .
Một ví dụ khác : một học sinh suốt năm học mãi mê chơi bời , sắp tới ngày thi y quýnh quáng học ngày học đêm để có thể thi đậu .
Theo Numerology , những người sanh ngày 4 , 8 , 13 , 17 , 22 , 26 , 31 hay có tên cộng lại bằng các số này ĐỀU NGHĨ RẰNG họ đã có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ từ các kiếp trước , nay trong kiếp này quyết định trả hết ; nghĩa là sẽ chấp nhận mọi đau khổ , nhục nhã , chửi bới , v.v... để kiếp sau được thanh thản .
Tôi biết 1 cô sanh ngày 13 , có tên cộng lại cũng bằng 13 , lúc khoảng 13 tuổi bị tai nạn xe cộ gây tàn phế gần như vĩnh viễn . Cha mẹ y quá đau khổ : dựa vào Numerology tôi giải thích , do y đã chọn kiếp này để trả nợ dồn nên y đã chấp nhận mọi đau khổ do tàn phế gây ra cũng như chế nhạo , nếu có , của một số người khi thấy y bị tàn phế như vậy . Tôi khuyên gia đình nên động viên y để cố gắng chịu đựng đau khổ cũng như mọi chế nhạo .
Năm 1975 , cũng bằng 4 vì 1 + 9 + 7 + 5 = 22 = 4 = trả nợ dồn . TT Thiệu , TT Khiêm , tướng Phú đều có tên bằng 13 ; còn tiếp .
Thursday, August 27, 2015
Hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hiện tại
- Cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại.
(Bài này do một ng quen ở bang Washington gửi , vì thấy nó có giá trị nên đăng lại tren blog mình và xin chia xẻ đến các bạn . Tựa bài do tôi đặt -- Tài) .
"Thank chị D. H. !
"Đã đưa một câu chuyện câu chuyện cảm động. Quá để cho H. hiểu thêm về những tương quan trong đời sống: tình yêu, cái chết. Cũng để hiểu chắc chắn cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại.
Hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hiện tại"
TÌNH YÊU
Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật!
“Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
“Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!”
Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
“Con chơi, con phải “take care” nó đó!”
“Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!”
“Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
“Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!”
Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến.
“Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!”
Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
“Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương nhưng thiện cảm thì không! Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm.
Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi.
Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
Duy la lên:
“Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế!
Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
“Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy!
Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
“Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?” “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
“Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
“Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
“Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
“Cậu con bà có thích con Joshua không?”
“Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
“Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
Hương chép miệng:
“Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách.
Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
“Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
“Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
“Chúc bà may mắn!”
Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven. Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
“Alice Park! Alice ..Park!”
Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home. Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn bạc thếch theo với thời gian. Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp.
Những đôi mắt u uẩn hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt mà những ngôn từ, động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia.
Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào ngửng lên nhìn Hương mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
“Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh: “Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong rồi quẹo trái, đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
“Cám ơn cô nhé!”
Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
“Nó tên gì vậy bà?”
“Joshua!”
“Hi Hoshua! Hi!”
Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú. Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:”Nó thích đàn bà, con gái mẹ à!” Mà có lẽ thế thật!
Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng. Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa, Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất.
Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia mà đã có một lần họ đã sống qua. Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô độc chăng?
Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong.
Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi.
Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama!”
Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan. Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào. Chỉ có đôi mắt chớp khẽ. Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống.
Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại. Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị. Làm như thế gian này chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất, không có gì có thể chia lìa. Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên. Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà. Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.
Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được. Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua:
“I love you too. Joshua! Mama love you!”
Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
“He hurt me!”
Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
“My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore. Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua?”
Joshua lập lại y hệt như vậy:
“Do you miss me, Joshua?”
Bà lão bật cười:
“No! Do you miss me, Mama?”
Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
“No! Do you miss me, Mama?”
Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
“Cô mang Joshua đến đây?”
Câu hỏi này thay cho câu hỏi: “Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi. Hương thấy ngay điều này nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
“Vâng!”
Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây. Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi nên Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành. Một đành đoạn chia ly tất nhiên! Nàng dựa lưng vào băng ghế nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu rồi lìa cành. Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất, có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống, có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất để tiếc thương thay cho những chiếc lá đã bỏ đi trước? Nhưng có một điều chắc chắn những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa. Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống, tình yêu, nỗi chết, rồi cũng chỉ như thế thôi!
Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy?
Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau, có nhau, cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa và những ngày kế tiếp có còn đến nữa hay không!
Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: "2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về. Joshua phải trở về căn phòng của Duy và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống, chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!
Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa. Joshua đang đậu trên thành giường, còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người: nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn. Trông bà ta có vẻ mệt mỏi. Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi nhìn Hương rồi hỏi: “Cô quen thế nào với bà Alice?”
Hương chỉ con Joshua:
“Qua con két này!”
“Thật à?”
Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
“Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
“Cô tử tế quá!”
Lần đầu tiên từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu: “Joshua! Đến lúc phải đi về..”
Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật. Hương đến gần, nó càng nhích đi xa, mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
“Joshua!”
“Mama!”
Cô y tá thích thú kêu lên:
“Ồ nó nói được!”
“Go home, Joshua! Go home!”
Nó lập lại lời bà Alice:
“Go home! Go home!”
Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
“Love ya, Mama! Go home!”
Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
“Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
“Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu: “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
Hương lặng im.
Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice. Chỉ giữa con két xanh và bà lão. Nó bay lên và đậu vào vai Hương nhưng vẫn kêu lên: “Love ya Mama!”
“I love you too, Joshua!”
Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
“Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây.. Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì.. vui lắm.”
Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice và nhẹ nhàng nói:
“Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
“Cám ơn cô.. cám ơn cô nhiều lắm!”
Nàng đi ra và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian.
Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương?
Mặc Bích
- Cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại.
(Bài này do một ng quen ở bang Washington gửi , vì thấy nó có giá trị nên đăng lại tren blog mình và xin chia xẻ đến các bạn . Tựa bài do tôi đặt -- Tài) .
"Thank chị D. H. !
"Đã đưa một câu chuyện câu chuyện cảm động. Quá để cho H. hiểu thêm về những tương quan trong đời sống: tình yêu, cái chết. Cũng để hiểu chắc chắn cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại.
Hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hiện tại"
TÌNH YÊU
Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật!
“Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
“Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!”
Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
“Con chơi, con phải “take care” nó đó!”
“Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!”
“Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
“Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!”
Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến.
“Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!”
Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
“Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương nhưng thiện cảm thì không! Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm.
Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi.
Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
Duy la lên:
“Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế!
Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
“Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy!
Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
“Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?” “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
“Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
“Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
“Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
“Cậu con bà có thích con Joshua không?”
“Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
“Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
Hương chép miệng:
“Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách.
Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
“Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
“Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
“Chúc bà may mắn!”
Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven. Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
“Alice Park! Alice ..Park!”
Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home. Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn bạc thếch theo với thời gian. Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp.
Những đôi mắt u uẩn hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt mà những ngôn từ, động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia.
Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào ngửng lên nhìn Hương mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
“Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh: “Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong rồi quẹo trái, đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
“Cám ơn cô nhé!”
Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
“Nó tên gì vậy bà?”
“Joshua!”
“Hi Hoshua! Hi!”
Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú. Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:”Nó thích đàn bà, con gái mẹ à!” Mà có lẽ thế thật!
Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng. Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa, Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất.
Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia mà đã có một lần họ đã sống qua. Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô độc chăng?
Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong.
Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi.
Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama!”
Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan. Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào. Chỉ có đôi mắt chớp khẽ. Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống.
Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại. Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị. Làm như thế gian này chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất, không có gì có thể chia lìa. Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên. Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà. Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.
Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được. Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua:
“I love you too. Joshua! Mama love you!”
Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
“He hurt me!”
Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
“My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore. Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua?”
Joshua lập lại y hệt như vậy:
“Do you miss me, Joshua?”
Bà lão bật cười:
“No! Do you miss me, Mama?”
Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
“No! Do you miss me, Mama?”
Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
“Cô mang Joshua đến đây?”
Câu hỏi này thay cho câu hỏi: “Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi. Hương thấy ngay điều này nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
“Vâng!”
Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây. Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi nên Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành. Một đành đoạn chia ly tất nhiên! Nàng dựa lưng vào băng ghế nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu rồi lìa cành. Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất, có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống, có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất để tiếc thương thay cho những chiếc lá đã bỏ đi trước? Nhưng có một điều chắc chắn những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa. Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống, tình yêu, nỗi chết, rồi cũng chỉ như thế thôi!
Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy?
Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau, có nhau, cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa và những ngày kế tiếp có còn đến nữa hay không!
Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: "2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về. Joshua phải trở về căn phòng của Duy và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống, chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!
Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa. Joshua đang đậu trên thành giường, còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người: nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn. Trông bà ta có vẻ mệt mỏi. Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi nhìn Hương rồi hỏi: “Cô quen thế nào với bà Alice?”
Hương chỉ con Joshua:
“Qua con két này!”
“Thật à?”
Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
“Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
“Cô tử tế quá!”
Lần đầu tiên từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu: “Joshua! Đến lúc phải đi về..”
Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật. Hương đến gần, nó càng nhích đi xa, mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
“Joshua!”
“Mama!”
Cô y tá thích thú kêu lên:
“Ồ nó nói được!”
“Go home, Joshua! Go home!”
Nó lập lại lời bà Alice:
“Go home! Go home!”
Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
“Love ya, Mama! Go home!”
Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
“Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
“Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu: “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
Hương lặng im.
Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice. Chỉ giữa con két xanh và bà lão. Nó bay lên và đậu vào vai Hương nhưng vẫn kêu lên: “Love ya Mama!”
“I love you too, Joshua!”
Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
“Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây.. Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì.. vui lắm.”
Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice và nhẹ nhàng nói:
“Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
“Cám ơn cô.. cám ơn cô nhiều lắm!”
Nàng đi ra và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian.
Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương?
Mặc Bích
Tuesday, November 4, 2014
Phật Giáo Tại Thái Lan
Kinh chuyen de tim hieu.
Mountainer
Lake Elsinore, Cali.
Phật giáo đã đóng góp tích cực vào trong đời sống của người dân Thái
không những về mặt vật chất, kinh tế mà còn đi sâu vào đời sống tinh
thần của
họ.
Thái
Lan (Thailand), tên cũ gọi là Siam (Xiêm-la), một quốc gia nằm trong
vùng Ðông Nam châu Á. Phía Bắc và Tây giáp với Miến Ðiện, Ðông Bắc giáp
với Lào, Nam giáp với Mã Lai, và vịnh Siam giáp với Campuchia. Thủ đô
Bangkok, diện tích: 514.000 km2, dân số 60 triệu (thống kê năm 1999),
mật độ dân cư: 108,4 người/km2. Ngôn ngữ chính là Thái ngữ, nhưng tiếng
Anh và tiếng Hoa (Tiều châu) cũng rất thông dụng.
Nguyên
thủ quốc gia hiện nay là Vua Bhumibol Adulyadej. Sau khi nền quân chủ
chuyên chế kết thúc vào năm 1932, đất nước Thái Lan đã lật sang một
trang mới. Là một quốc gia mà Phật giáo được xem quốc giáo và là một
nước có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng chưa bao giờ biến
thành một nước thuộc địa của các đế quốc châu Âu như các nước láng giềng
khác, Thái Lan đã có một nền công nghiệp phát triển vào cuối những năm
80 nhờ những nguồn đầu tư từ nước ngoài. Thu nhập bình quân đầu người
hiện nay ở Thái Lan là trên dưới 2000 đô la.
Phật
giáo là quốc giáo của Thái Lan (những tôn giáo nhỏ khác là Ky Tô giáo,
Hồi giáo và Ấn giáo). Thái Lan được biết đến như "vùng đất tự do", "quê
hương của nụ cười", "đất nước của những chiếc áo cà sa". Tên gọi cuối
cùng này đã mô tả một cách sâu sắc về một tôn giáo lớn mà dân tộc Thái
đang tôn thờ.
Lịch
sử Thái Lan được chia thành 4 thời kỳ qua các triều đại: Sukhothai,
Ayutthaya, Thon Buri và Rattanakosin (Bangkok). Thời kỳ đầu của triều
đại Sukhothai (1237-1456), Phật giáo (PG) đã được xem là quốc giáo của
dân tộc Thái.
Hiện
tại, tổng số 95% dân chúng được ghi nhận là tín đồ PG, hầu hết là theo
truyền thống Theravada. Theo sự thống kê gần đây (1998) cho thấy, có
trên 30.000 ngôi Chùa ở 75 tỉnh thành của Thái Lan. Con số tăng sĩ Thái
Lan không có con số nhất định mà tùy thuộc vào mùa mỗi năm. Con số cao
nhất được ghi nhận là 350.000 tăng sĩ hiện diện trong mùa nhằm vào mùa
kiết đông an cư của chư tăng Thái, từ tháng 7 đến tháng 9 mỗi năm. Ngoài
những vị đã chính thức được truyền Cụ Túc giới (Upasamapada), số còn
lại là những tăng sinh tập sự hoặc tu gieo duyên, tuổi từ 6 cho đến 19,
con số này đông không thể thống kê được.
Nguồn gốc truyền nhập Phật giáo vào Thái Lan
Nhiều
nguồn tư liệu cho rằng Phật giáo được truyền vào Thái Lan vào đầu thế
kỷ thứ 3 trước Tây Lịch (khoảng năm 241 tr TL) theo sau cuộc truyền bá
Chánh pháp quy mô của nhà vua Phật tử Asoka (A Dục) đến Tích Lan và Miến
Ðiện. PG Thái Lan (PGTL) về sau còn tiếp nhận thêm nhiều nhà truyền bá
đến từ Miến Ðiện vào năm 1044 và các pháp sư đến từ Tích Lan vào năm
1155. Hầu hết là theo truyền thống PG Theravada. Tuy vậy, PG chỉ thực sự
đặt lại nền móng, phát triển và ảnh hưởng sâu rộng vào xã hội Thái Lan
từ triều đại Sukhothai (1237-1456). Trong thời kỳ này có rất nhiều vị
vua tín ngưỡng Phật Pháp, xây dựng chùa chiền, ủng hộ việc đào tạo tăng
tài để phát triển Chánh pháp, thậm chí có nhiều vị xuất gia tu học luôn,
như Vua Ramkhamheng và Vua Lithai.
Ðặc
biệt, Vua Lithai là một ông Vua Phật tử anh minh, từ ái, thương dân như
con của mình, kể cả những kẻ đối đầu với mình, những người chống lại
Thái Lan. Ông đã có công xây chùa và đúc tượng Phật rất nhiều trong thời
ông trị vì. Những tượng đồng thật lớn hiện nay vẫn còn tôn thờ ở Chùa
Buddhajinarai, Chùa Phrarinatnahadhatu, Chùa Sadassana v.v. đều được đúc
từ thời của ông.
Tiếp
đến là các triều đại Ayudhya (1350-1766), Thonburi (1766-?) và triều
đại Bangkok (1782-cho đến nay) do vua Rama I thiết lập, PG đã tiếp tục
phát triển mạnh trong mọi lĩnh vực. Ðặc biệt các vị Vua trong triều đại
Bangkok, có nhiều vị đã xuất gia tu học và sáng tác nhiều tác phẩm văn
học PG giá trị để cống hiến cho đời.
Có
thể nói triều đại Bangkok là một triều đại ủng hộ cho PG phát triển mọi
mặt.
Nhất là Vua Rama V (vua Mongkut) đã xuất gia tu học ở Chùa
Bovoranives, ông đã tổ chức biên tập lại Tam Tạng Thánh Ðiển PG, bằng
tiếng Pali vào năm 1888, đến năm 1893 hoàn thành với 39 quyển. Ðây là
một bộ Tam Tạng Thánh Ðiển PG đầu tiên trên thế giới bằng tiếng Pàli
được in trên giấy (trước đây chỉ viết trên lá bối). Bộ Tam Tạng này sau
đó được ấn tống ra rất nhiều để gởi tặng các PG trên thế giới. Nhà vua
cũng cho thành lập hệ phái Dhammayuttika gồm các tu sĩ tu hạnh đầu đà,
vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay ở miền Ðông Bắc, song song với hệ
phái chính là Mahanikaya là hệ phái của đa số tu sĩ Thái.
Ðến
năm 1934, Vua Rama VII đã cho cải biên lại thành 45 tập, biểu trưng cho
số năm hoằng pháp của Phật. Bộ Ðại Tạng này đến năm 1940, dưới triều
đại của Vua Rama VIII, vị Tăng thống Tissadeva đã tập hợp được hơn 200
vị tăng lầu thông ngôn ngữ Pali để phiên dịch ra tiếng Thái. Cuối cùng
bộ Ðại Tạng Kinh tiếng Thái cũng đã hoàn tất vào năm 1952, gồm 70 tập,
trong đó có 42 tập thuộc Tạng Kinh, 13 tập thuộc Tạng Luật và 25 tập
thuộc Tạng Luận, sở phí in ấn công trình vĩ đại này được đóng góp của
toàn nhân dân và Chính phủ Thái vào lúc ấy.
Trong
triều đại của Vua Bhulmibol Adulyadej (Rama IX) từ 1946 đến nay, PG
cũng phát triển đều đặn về các lĩnh vực văn hóa, y tế và giáo dục. Ðặc
biệt, vị vua này đã ủng hộ cho công trình đưa Tam Tạng Thánh Ðiển Phật
Giáo (Tipitaka) vào cất giữ trong hệ thống điện tử CD-ROM, công trình
này bắt đầu thực hiện từ năm 1987 để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của
ông. Ðến nay đã hoàn thành được bốn đĩa CD-ROM, gồm các thứ tiếng Pali,
Thái, Miến, Khmer và Tích Lan, tổng cộng có 115 quyển, 50.189 trang, 210
tỷ chữ ( mỗi đĩa chứa khoảng 500 triệu chữ).
Ðịa chỉ vào xem hoặc thỉnh
CD-ROM này là:
Chùa
và tăng sĩ đóng một vai trò rất quan trọng trong xã hội Thái trên 700
năm qua. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những vai trò này của họ qua
các lĩnh vực giáo dục, kinh tế, văn hóa và xã hội sau đây:
* Về giáo dục
Tăng
sĩ Thái Lan đã đóng một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực này. Ngôi
trường đầu tiên được thành lập ở Thái Lan được xây dựng ngay trên khu
đất của Chùa và những giáo viên đầu tiên là tăng sĩ. PG đã nắm giữ vai
trò này trong một thời gian dài cho đến triều đại của Vua Chulalongkorn
(Rama V) thì ngành giáo dục phổ cập chính thức ra đời.
Các
trường công lần lượt được mở bên ngoài tu viện, các trường PG dần dần
được tiếp quản bởi bộ giáo dục Thái, điều này dẫn tới vị trí của tăng sĩ
trong lĩnh vực giáo dục bị thu hẹp dần. Các giáo viên thế gian cũng
được thay thế và tăng sĩ hiện nay chỉ còn dạy một ít môn học như giáo lý
căn bản, công dân giáo dục....
Ngày
nay, tuy vai trò của PG không còn can thiệp nhiều vào ngành giáo dục
phổ cập, nhưng những di sản của PG để lại, vẫn giữ nguyên giá trị và vẫn
đứng vững trong lòng của dân tộc Thái. Những tòa biệt thự đồ sộ của bộ
giáo dục, những ngôi trường lớn, những tổ chức từ thiện... phần lớn vẫn
còn nằm trong khuôn viên của Chùa. Những ngôi trường Trung học và Ðại
học có uy tín và danh tiếng, có nhiều tiêu chuẩn cao trong việc học và
dạy, đều gợi lại cho người ta nhớ đến một quá khứ tốt đẹp thông qua sự
hoạt động của tăng sĩ PG Thái.
* Về kinh tế:
Phật
giáo cũng đóng một vai trò đáng kể trong môi trường kinh tế của người
dân Thái. Nhiều lời Phật dạy về cách chọn nghề chân chính và thực hiện
công việc làm ăn chân chính, đã được áp dụng rộng rãi trong mọi gia tầng
của xã hội Thái, và người dân Thái biết làm thế nào để duy trì một gia
đình hạnh phúc, ổn định về kinh tế qua giáo lý của nhà Phật.
Theo
truyền thống, những tăng sĩ Thái thường đóng vai trò người lãnh đạo
trong các công trình lớn. Do xuất phát từ trái tim từ bi, vô vị kỷ mà họ
được xem là những nhà cố vấn và giám sát công trình thành công nhất,
chi phí được giảm xuống, những trục trặc, trở ngại trong tiến trình xây
dựng cũng ít xảy ra.
Mặt khác, những chùa ở Thái Lan cũng mở trường huấn
nghệ cho dân chúng như bào chế thuốc Nam, thợ mộc, thợ nề và nhiều
ngành nghề thủ công khác. Nói chung, dân chúng đã nhận được nhiều sự lợi
lạc về kinh tế từ nhà Chùa và các tăng sĩ cũng luôn ý thức rằng bổn
phận của họ không chỉ có trách nhiệm giúp đỡ và chăm sóc đời sống tâm
linh mà còn quan tâm đến đời sống kinh tế cho người dân nữa.
Những lễ nghi:
Sinh
hoạt tín ngưỡng PG luôn là một phần quan trọng trong đời sống của người
dân Thái, từ lúc mới chào đời, trưởng thành, lễ cưới, ma chay... đều có
liên quan đến chùa chiền và tăng sĩ.
Lễ Ðặt Tên: Khi
sanh con, cha mẹ thường thỉnh y Quý Thầy đặt tên cho con mình, vì họ
tin rằng tên được chọn từ các Thầy sẽ vừa đẹp đẽ về mặt ngôn ngữ lẫn ý
nghĩa. Tiếp đó là Quý Thầy sẽ làm lễ đặt tên và tụng một thời kinh cầu
an cho đứa bé.
Lễ Thọ Giới: Nghi
thức thứ hai này cũng rất quan trọng và bắt buộc đối với mọi thanh niên
Thái, kể cả các bậc vua chúa, khi họ ở vào giai đoạn trưởng thành, mười
tám đến hai mươi tuổi. Thông thường, họ vào Chùa tu tập ba tháng, một
năm hoặc ba năm, tùy theo sở thích và ước nguyện của mỗi người. Nhiều
bậc cha mẹ muốn con cái của họ được dự lễ thọ giới này trước khi lập gia
đình hoặc khi bắt đầu một nghề nghiệp chính thức. Vì rằng, buổi lễ này
sẽ giúp cho người ấy có được một tâm hồn rộng lớn hơn được kèm với giới
luật, những lời phát nguyện trong buổi lễ này sẽ khiến cho người ấy phải
trân trọng và gìn giữ suốt một đời người. Nó là nền tảng vững chắc cho
đời sống tâm linh của người dân Thái.
Theo
truyền thống, buổi lễ diễn ra sau một thời gian ngắn người ấy thực tập
trong Chùa. Lễ truyền giới được tổ chức trong suốt tháng bảy của mỗi
năm. Vào ngày trước khi thọ giới, vị thanh niên ấy được cạo đầu và được
mặc một bộ y màu trắng. Quý Thầy lớn tuổi được cung thỉnh về nhà của vị
ấy để tụng kinh cầu an và tiếp nhận sự cúng dường. Bạn bè và những người
thân cũng được phép tham dự buổi lễ đặc biệt này để cho vị ấy tạ từ
trước khi bước vào đời sống mới.
Vào
ngày lễ truyền giới, vị Thầy tương lai này được hướng dẫn đi kinh hành
vòng quanh tu viện trước khi được đưa vào bên trong điện Phật mà chư
giới sư đã hiện diện sẵn. Sau khi trải qua một loạt kiểm tra về những
điều luật cần thiết của một tăng sĩ, vị ấy được các bậc trưởng lão giới
sư tuyên bố là các vị chính thức trở thành tăng sĩ PG, cho phép gia nhập
vào tăng đoàn và ngay lập tức được trao cho ba chiếc y màu vàng nghệ,
một chiếc bình bát và những vật dụng cần thiết của một người tăng sĩ.
Sau
khi thọ giới Tỳ kheo xong, vị ấy sống tinh cần, thanh tịnh và luôn được
đào tạo một cách nghiêm khắc để có thể kiểm soát thân và tâm của mình
theo giới luật đã thọ. Vị ấy phải sống nghiêm túc theo giới luật như một
tăng sĩ thật sự trong thời gian lưu trú trong tu viện. Tuy nhiên, vị ấy
có thể trở về với thân phận của một người thế tục ở bất kỳ thời điểm
nào mà vị ấy muốn.
Lễ Cưới: Phật giáo cũng đóng vai trò quan trọng trong hôn lễ, buổi lễ sẽ giúp cho hai người có một sự kết hợp thiêng liêng trong lễ cưới.
Thông
thường, các Tỳ kheo được cung thỉnh đến tụng kinh cầu an trong căn nhà
của đôi tân hôn ấy vào buổi chiều trước lễ cưới của họ. Buổi sáng hôm
sau cặp vợ chồng này đem thức ăn cúng dường cho chư Tăng trước khi họ
tiến hành hôn lễ. Chư Tăngtiếp đó sẽ đọc kinh cầu phúc và rải nước thánh
lên cô dâu và chú rễ. Những quan khách tham dự lễ cưới đổ nước thánh từ
một vỏ sò xuống bàn tay của đôi vợ chồng. Những bàn tay khác của quan
khách được chống lại thành đóa sen búp để tỏ lòng tôn kính và chúc mừng
trong khi đôi tân hôn quỳ xuống trên một chiếc ghế thấp, mỗi người được
đeo một vòng hoa liên kết với nhau, để tượng trưng cho sự thắt chặt cuộc
sống tương lai của họ.
Lễ Tang: Lễ
nghi này cũng rất quan trọng trong đời sống của người dân Thái. Tang lễ
được tổ chức tùy theo phong tục của từng địa phương, nhưng phần lớn vẫn
được áp dụng theo nghi thức Phật giáo.
Sau
khi một người đã qua đời, thông thường một nghi thức tắm và thay đồ xảy
ra vào buổi trưa đầu tiên. Vị Thầy chủ lễ đến làm phép và rải nước hoa
lên nhục thân của người chết, một sợi thiêng liêng được kéo qua ba lần
trên thi thể người quá cố, rồi cắt bỏ, tượng trưng cho sợi dây ràng buộc
của tham ái, sân hận và si mê nay không còn nữa. Thi hài được nhập tẩm
liệm vào buổi chiều và được trang hoàng với nhiều vòng hoa tươi xung
quanh quan tài. Quý Thầy và bạn bè thay phiên nhau tụng kinh cầu siêu
đến lúc lễ hỏa táng hay địa táng xảy ra. Vào ngày cuối của tang lễ, một
buổi lễ cúng dường trai tăng được tổ chức để hồi hướng công đức siêu độ
vong linh.
Sau
lễ hỏa táng, tro cốt của người mất được thu nhặt lại, một ít được đặt
vào bình đựng cốt, thờ tại nhà hoặc Chùa và phần còn lại được rải xuống
biển hay được ném vào trong gió, biểu hiện việc làm lợi ích cho môi
trường xung quanh.
Mỗi
năm đến ngày giỗ của người mất, Quý Thầy và bè bạn được mời đến nhà để
tụng kinh siêu độ, ban phúc lành lên tro cốt của người mất và trong dịp
này những lễ cúng dường cho Quý Thầy cũng được tổ chức để tạo phước
duyên cho người quá cố.
Phật giáo Thái với công tác từ thiện xã hội
Ðược
thấm nhuần từ lời dạy từ bi của Ðức Phật, các tăng sĩ PG Thái đã trở
nên tích cực, để hết tâm trí vào các vấn đề phúc lợi xã hội.
Một
trong những vị sư nổi tiếng về công tác này là Hòa thượng Chamroon,
Chùa Thamkrabok ở tỉnh Saraburi thuộc miền Trung Thái Lan, vị này có uy
tín trong việc điều trị khỏi chứng nghiện ma túy. Vì nhìn thấy cái khổ
triền miên của người nghiện mà Ngài đã cố công nghiên cứu và bào chế ra
một loại dược thảo để chữa bệnh và đã thành công. Những kết quả gần đây
cho thấy rằng sự điều trị của Trung tâm Ngài có hiệu quả hơn 70%. Hiện
tại, nhiều ngàn người đã đổ xô về Trung tâm cai nghiện ma túy của Ngài
để tìm sự giúp đỡ, trong đó người ta thấy có cả những con nghiện đến từ
Mỹ và châu Âu. Ðiều đáng kể là tiền lệ phí chữa bệnh và ở nội trú với
giá rất thấp. Nhờ thế mà Trung tâm của Ngài ngày càng đông thêm. Chính
quyền Thái Lan đã ủng hộ và tài trợ cho Trung tâm này trong nhiều năm
qua.
Ðịa chỉ web page là:http://www.thamkrabok.org.
Các
tăng sĩ PG không chỉ đóng vai trò điều trị về thân bệnh mà họ còn phục
vụ xuất sắc trong lĩnh vực chữa khỏi tâm bệnh. Những tăng sĩ Thái Lan
được xem là những nhà tư vấn về tâm lý hay nhất xưa nay ở xứ sở này.
Ngôi chùa và đời sống của người dân Thái
Chùa, một kho tàng an toàn nhất: Người
dân Thái Lan thường cảm thấy bất an khi giữ những đồ quý giá trong nhà
của họ, vì thế họ đã gởi vào trong Chùa và xin phép vị trụ trì lưu trữ
những vật quý ấy trong Chùa.
Chùa cũng là nơi an toàn: để
bảo trì bộ Ðại Tạng Kinh viết trên lá bối bằng tiếng Pàli, những bộ
sách lịch sử của các Vương triều của Thái Lan, những sách có giá trị
thời cổ đại của ngành thương mãi của Thái Lan được viết trên lá cau, lá
dừa... vẫn còn bảo trì cho đến ngày nay.
Chùa là nơi để bảo tồn: những
pho tượng Phật vô giá của dân tộc Thái, phần lớn tượng được đúc bằng
vàng, đồng và ngọc. Theo tín ngưỡng của người dân Thái, những pho tượng
lâu đời này có một sức mạnh tâm linh vô cùng đặc biệt, đã có thể báo
trước những sự kiện nguy hiểm và tai họa sắp xảy ra cho người dân Thái.
Chùa, nơi tạm trú: Trong
quá khứ, khi chưa có nhà trọ hay khách sạn, người du khách từ nơi này
đến nơi khác, không có nơi tạm trú một đêm, trong hoàn cảnh đó chỉ có
Chùa là nơi họ hướng về. Cánh cửa Chùa luôn rộng mở cho những ai cần
đến, luôn sẵn sàng giúp đỡ cho tất cả mọi người dân. Nhiều người nghèo ở
nông thôn có con đi học ở Bangkok hay ở những thành phố khác, không có
tiền trả ký túc xá, họ đã gởi con vào tạm trú trong Chùa.
Chùa, nơi hội họp: Chùa
ở Thái Lan luôn luôn có một phòng hội họp rộng lớn và một sân chơi thể
thao. Mỗi khi có hội họp trong làng xã đó, họ thường tập trung về Chùa.
Sân thể thao được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài việc chơi
thể thao cho thanh thiếu niên trong vùng, còn là nơi để tổ chức bầu cử
quốc hội, nơi tuyển quân ra trận, nơi chích ngừa, nơi có những cuộc
meeting lớn....
Chùa là một trung tâm văn hóa: Chùa
là nơi bảo tồn những bài hát điệu nhảy, những vở kịch truyền thống có
giá trị của Thái Lan. Chùa cũng là nơi duy trì và tồn lại đủ các kiểu
kiến trúc, điêu khắc, chạm trổ của Thái Lan từ xưa cho đến nay.
Một số tổ chức Phật giáo tại Thái Lan
Thái
Lan được biết đến như là một vùng đất tự do, do đó có nhiều tổ chức Phi
Chính phủ đã được thành lập tại đất nước này, trong đó có hai tổ chức
Phật giáo Thế giới đều được đặt trụ sở chính tại nơi đây, đó là World Buddhist Followship (viết tắt: WBF, Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới) và International Network of Engaged Buddhists (viết tắt: INEB, tạm dịch: Tổ Chức Quốc Tế Các Phật Tử Dấn Thân).
Về
Hội WBF được thành lập vào ngày 25 tháng 5 năm 1950 tại Tích Lan với
năm chủ trương như sau: 1) Khuyến khích hội viên học và tu theo lời Phật
dạy; 2) Siết chặt tình hữu nghị, đoàn kết và thống nhất giữa các quốc
gia Phật giáo; 3) Ðẩy mạnh công tác truyền bá giáo lý mầu nhiệm của
Phật; 4) Tổ chức và đưa các hoạt động Phật sự vào trong các lĩnh vực như
xã hội, giáo dục, văn hóa; 5) Mang lại hòa bình, an lạc và hạnh phúc
đến cho hành tinh này và sẳn sàng liên kết với những tổ chức khác có
cùng đường hướng.
Ðể
đạt được mục đích trên, WFB đã cho thành lập nhiều chi nhánh trên khắp
thế giới và một Hội đồng trị sự gồm các ban như: Ban Giáo dục, in ấn và
nghệ thuật, Ban Hoằng pháp, Ban Từ thiện, Ban Ðoàn kếât, Ban Tài
chánh.... Trong 30 năm hoạt động, với sự ủng hộ nhiệt thành của các
Chính phủ Tích Lan, Miến Ðiện và Thái Lan, từ 27 chi nhánh ban đầu đã
phát triển lên đến 123 chi nhánh, từ 39 quốc gia trên khắp các châu lục.
Về trụ sở Trung ương được đặt tại Tích Lan từ năm 1950 đến 1958, sau đó
được dời qua Miến Ðiện, sau sáu năm (1958-1963) đặt tại Miến, trụ sở
một lần nữa lại chuyển qua đến Thái Lan từ năm 1963 đến nay. (Ðịa chỉ
liên lạc của hội là: World Fellowship of Buddhists, 616 Benjasiri Park,
Soi Medhinivet off Soi Sukhumvit 24, Sukhumvit Road, Bangkok 10110,
Thailand. Tel: 662.661.128489. Fax: 662.661.0555). Hội WBF vừa tổ chức
đại hội định kỳ lần thứ 20 tại Úc châu và theo kế hoạch Ðại hội lần thứ
21 của WFB sẽ được tổ chức tại Tích Lan vào năm 2000. (Xin vào địa chỉ
sau đây để biết thêm về hiệp hội này: http://www.zip.com.au/-
Về
Hiệp hội INEB do đạo hữu người Thái Sulak Sivaraksa kết hợp với Hòa
thượng người Nhật Bản Teruo Muruyama thành lập vào tháng hai năm 1989
tại Bangkok theo sau cuộc Hội nghị khoáng đại gồm nhiều đại biểu Phật
giáo từ mười ba quốc gia như Úc, Mỹ, Canada, Ý, Ðức, Anh, Pháp,
Bangladesh, v.v. trên khắp thế giới về dự. Hiệp hội đã cung thỉnh Ðại
lão Hòa thượng người Thái Buddhadasa, Ðức Dalai Lama, người Tây Tạng,
Thiền sư người Việt Thích Nhất Hạnh và Hòa thượng Cambốt Maha Ghosananda
vào hàng chứng minh và cố vấn tinh thần cho Hội.
Chủ
trương của INEB là kết hợp với nhiều tổ chức Tôn giáo trên thế giới để
tổ chức các cuộc Hội Thảo về xã hội và tôn giáo, hầu đem lại lợi ích
thật sự cho xã hội; Cung cấp những tin tức mới về PG và hỗ trợ cho các
nước PG nghèo ở trong vùng Nam Á và Ðông Nam châu Á; Vận động các quốc
gia giảm bớt chính sách hà khắc của họ đối với tôn giáo và dân chủ; Bảo
trợ và tổ chức các buổi hội thảo xung quanh chủ đề giảm thiểu khổ đau
thông qua các sinh hoạt xã hội, chính trị, kinh tế, sinh thái v.v. với
mục tiêu tốt đẹp trên, từ 36 hội viên lúc ban đầu, đến nay INEB đã có
hơn 400 hội viên từ 33 quốc gia trên khắp thế giới. INEB còn cho phát
hành Nguyệt san Seeds of Peace (Hạt giống của Hòa bình) và mở một trang
báo điện tử khác để phổ biến chủ trương và giáo lý. Ðịa chỉ truy cập là: http://www.bpf.org/ineb.
Kết
luận
Phật
giáo đã đóng góp tích cực vào trong đời sống của người dân Thái không
những về mặt vật chất, kinh tế mà còn đi sâu vào đời sống tinh thần của
họ. Sự hiểu biết và thấm nhuần giáo lý nhân quả nghiệp báo và nhiều giáo
lý cốt lõi của PG, đã giúp cho người dân Thái biết sống và sống theo
khuôn khổ của Chánh pháp. Bản chất hiền hòa, từ ái, khiêm cung và nhã
nhặn của người dân Thái đã thể hiện một phần nào đó từ sự thực hành đạo
lý của họ.
Sự
thừa nhận và tán dương PG vai trò của nó trong xã hội Thái là một điều
cần thiết và không cường điệu để nói lên điều ấy. Thực vậy, Phật giáo đã
ăn sâu vào lòng của dân tộc Thái, và đã có mặt trên khắp mọi ngã đường
của xứ sở này./.
Tổng hợp theo các tài liệu :
| ||||||||||||||||||||||
Saturday, June 22, 2013
CÀ RI VÀ MẤT NGỦ - VIÊM ĐA XOANG - GAI CỘT SỐNG
Chào cháu ,
A . Thời gian gần đây bác thường xuyên mất ngũ , thức tới 3-4 g mới chợp mắt . Hồi đầu , bác nghĩ là do bị stress , vì bác bị depression từ lâu .
Bác thường xuyên ăn món CÀ RI gà , có khoai tây cà rốt . Bác để ý hôm nào KHÔNG ăn cà ri thì ngũ được ; thế là , bác nhận ra : ăn cà ri gây mất ngũ .
Đây là do cơ thể bác DỊ ỨNG với cà ri ; chứ đàn bà , con gái Ấn độ , ỡ Mỹ này , đứng gần họ là có mùi cà ri . Vì họ ăn rất nhiều và hàng ngày nên cà ri đã vô máu và biến thành hơi thở ; ý cũa bác , là ngay cã trước đó , họ ko ăn cà ri nhưng vẫn có mùi trong hơi thở .
B . Sau đây là vài nguyên nhân cũa viêm đa xoang - mà cháu bị từ nhỏ :
"1/Do cơ địa DỊ ỨNG một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biến chất, làm cho niêm mạc (màng nhày) mũi phù nề, gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.
2/ Sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn, SUY GIẢM MIỄN DỊCH , suy yếu niêm mạc dường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân viêm xoang kèm theo viêm một số bộ phận khác."
C . HỆ MIỄN DỊCH cũa cháu , vì một lý do nào đó , đã trigger một cái lịnh khiến cho cháu mọc GAI trên xương sống .
Trong khi đó : với thể chất yếu đuối từ trước (ba cháu + bác Bình biết rỏ , tướng tá bác như dân nghiện sì-ke) , khi vào tù ăn uống thiếu thốn , lại thường xuyên khiêng vác gổ nặng trên núi , mà bác đâu có bị đau xương sống hay gai cột sống . Đã vậy bác còn bị loãng xương (osteaomalacy) do suy dinh dưỡng từ nhõ , nên dễ bị gẫy xương nếu bị té . . .
Cháu chịu khó tập yoga hay thiền , kết hợp với uống thuốc . Vì yoga/thiền giúp mình ko suy nghĩ nhiều > mất ngũ . Người Mỹ này , do cuộc sống căng thẵng , sợ thất nghiệp , vợ/chồng li dị , v.v... . . . sợ đủ thứ chuyện nên nhiều người bị STRESS . Thành ra họ đã nghiên cứu nhiều và khuyên tập thiền (MEDITATION) . Ở TP nào cũng có nhiều Meditation Center .
Chào cháu ,
A . Thời gian gần đây bác thường xuyên mất ngũ , thức tới 3-4 g mới chợp mắt . Hồi đầu , bác nghĩ là do bị stress , vì bác bị depression từ lâu .
Bác thường xuyên ăn món CÀ RI gà , có khoai tây cà rốt . Bác để ý hôm nào KHÔNG ăn cà ri thì ngũ được ; thế là , bác nhận ra : ăn cà ri gây mất ngũ .
Đây là do cơ thể bác DỊ ỨNG với cà ri ; chứ đàn bà , con gái Ấn độ , ỡ Mỹ này , đứng gần họ là có mùi cà ri . Vì họ ăn rất nhiều và hàng ngày nên cà ri đã vô máu và biến thành hơi thở ; ý cũa bác , là ngay cã trước đó , họ ko ăn cà ri nhưng vẫn có mùi trong hơi thở .
B . Sau đây là vài nguyên nhân cũa viêm đa xoang - mà cháu bị từ nhỏ :
"1/Do cơ địa DỊ ỨNG một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biến chất, làm cho niêm mạc (màng nhày) mũi phù nề, gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.
2/ Sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn, SUY GIẢM MIỄN DỊCH , suy yếu niêm mạc dường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân viêm xoang kèm theo viêm một số bộ phận khác."
C . HỆ MIỄN DỊCH cũa cháu , vì một lý do nào đó , đã trigger một cái lịnh khiến cho cháu mọc GAI trên xương sống .
Trong khi đó : với thể chất yếu đuối từ trước (ba cháu + bác Bình biết rỏ , tướng tá bác như dân nghiện sì-ke) , khi vào tù ăn uống thiếu thốn , lại thường xuyên khiêng vác gổ nặng trên núi , mà bác đâu có bị đau xương sống hay gai cột sống . Đã vậy bác còn bị loãng xương (osteaomalacy) do suy dinh dưỡng từ nhõ , nên dễ bị gẫy xương nếu bị té . . .
Cháu chịu khó tập yoga hay thiền , kết hợp với uống thuốc . Vì yoga/thiền giúp mình ko suy nghĩ nhiều > mất ngũ . Người Mỹ này , do cuộc sống căng thẵng , sợ thất nghiệp , vợ/chồng li dị , v.v... . . . sợ đủ thứ chuyện nên nhiều người bị STRESS . Thành ra họ đã nghiên cứu nhiều và khuyên tập thiền (MEDITATION) . Ở TP nào cũng có nhiều Meditation Center .
Monday, October 8, 2012
oprah winfrey đàm đạo với thiền sư nhất hạnh .
http://langmai.org/cong-tam-quan/Thich-Nhat-Hanh/oprah-dam-dao-voi-thien-su-nhat-hanh
http://langmai.org/cong-tam-quan/Thich-Nhat-Hanh/oprah-dam-dao-voi-thien-su-nhat-hanh
Wednesday, October 3, 2012
Chánh Niệm cho một nền đạo đức toàn cầu
Thế giới chúng ta đang
đi về hướng toàn cầu hóa từ kỹ thuật, kinh tế, văn
hoá, xã hội ... và thế giới cũng trên đà bị đẩy
tới - phải đối phó với nhiều khó khăn để giữ vững
nền đạo đức của con người. Khó khăn và khổ đau
nơi nào cũng có và có mỗi ngày, nhưng nếu ta luyện
được nếp sống có chiều sâu tâm linh thì ta có thể
sống nhẹ nhàng hạnh phúc hơn, có bình an hơn...
Sáng
chủ nhật 16 tháng Chín 2012, đường RER và Métro đến
chỗ Thiền sư Thích Nhất Hạnh giảng rất tiện nhưng
tôi dại quá cứ nghĩ là ngày Chủ nhật dân Paris không
đi làm thành phố vắng xe. Thế nên tôi ngồi ô tô,
nhưng xe vừa tới vòng đai Thủ đô mới biết Paris có
Lễ Humanité nên xe kẹt như niêm. May là đi sớm, nếu
chờ tới cận giờ mới đi thì coi như đến trể là cái
chắc.
Cuối
cùng rồi cũng tới nơi, mọi khâu chuẩn bị đã đâu
vào đó. Gian hàng sách có tới ba bàn dài chất đầy
hàng trăm tựa sách tiếng Pháp của Sư Ông, các chị
Minh Tri, Ấu Mai, Châu Francine,... thanh lịch tươi cười
đứng sau quày sách, dưới chân còn nhiều thùng sách
chưa mở sẵn sàng mời chào thiền sinh. Kế bên là quầy
CD, DVD pháp thoại, thiền ca, ... Tiếp theo là quầy thư
pháp đủ kích cỡ do chính tay Sư Ông viết. Góc vuông
đằng kia là quầy thức ăn mà chỉ có bánh mì kẹp bì
và chả chay với nước khoáng. Các chị Mai, Thủy, Hiệp,
Bích, Mỹ Vân, Ngọc Anh, Kim Chính, ... ai cũng tươi cười
sau quày hàng như hoa buổi sáng.
Đặc
biệt, hôm nay chị Hạnh cho dựng thêm mấy chùm tre xanh
biếc xếp thành hình trụ rồi nối kết lại với nhau
bằng những cây tre ngang và giăng lên đó nhiều giây màu
thật đẹp và đặt tên là "arbre à souhaits" để
người ta dán lên đó những trái tim ghi lời chúc tụng
tùy theo tâm tư của mỗi vị khách. Thế nên hôm nay mỗi
người khách bước vào cửa đều được phát cho một
miếng giấy màu hường cắt hình trái tim.
10
giờ 40 "Tiếng lành đồn xa", có lẽ nhờ âm
hưởng bài giảng ngày hôm qua mà hôm nay Thiền sinh tới
nghe đông hơn, họ ngồi kín cả thính đường. Tiếng
hát trong trẻo trẻ trung của Ni Sư lan tỏa khắp thính
đường qua một vài bài thiền ca lời Pháp có công năng
khơi mở ý thức chánh niệm nơi mỗi tự thân. Vừa hát
Ni Sư vừa hướng dẫn và tập thiền sinh hát theo bài Le
Bonheur c’est maintenant (Hạnh
phúc bây giờ).
Le
Bonheur c’est maintenant
j’ai laissé tous mes soucis,
nulle part òu aller,
rien à faire.
Pas besoin de me presser.
j’ai laissé tous mes soucis,
nulle part òu aller,
rien à faire.
Pas besoin de me presser.
Ta
hạnh phúc liền giây phút này.
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa.
Chẳng chi để làm.
Học buông thả.
Sống không vội vàng.
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa.
Chẳng chi để làm.
Học buông thả.
Sống không vội vàng.
Ni
sư nói: quý vị tập hát trước rồi sau đó thực tập
cho được theo lời bài hát nhé! Mình phải dừng lại
thật như không có đi đâu hết, không có chi để làm
cả. Cho tâm mình thật yên trước đi. Rồi đoạn sau,
khi tâm đã an rồi mình mới cùng hát: Le
Bonheur c’est maintenant, j’ai laissé tous mes soucis, quelque
part òu aller, quelque chose à faire. Mais à présent j’ai tout
mon temps. (Ta hạnh phúc liền giây phút này. Lòng đã
quyết dứt hết âu lo. Thong dong khi tới. Thãnh thơi lúc
làm. Lòng thanh thản, sống trong nhẹ nhàng.)
Tức là vẫn làm, nhưng giữ lòng bình an. Khi cần đi thì
hải đi, nhưng đi cho thong dong. Công việc hằng ngày cũng
phải làm, nhưng Làm với lòng thanh thản. Sống ở đâu,
làm việc chi cũng nhẹ nhàng, thong thả.
Ba
tiếng chuông lại vang lên báo hiệu giờ ngồi thiền
trước khi Sư Ông ra thuyết pháp. Hôm nay sư cô Chân Đào
Nghiêm người Pháp hướng dẫn mọi người sửa lại thế
ngồi trên ghế, ngồi cho thong thả. Lưng giữ thẳng, đầu
ngước lên cùng đường thẳng của sống lưng. Hai vai
đừng gồng, buông thư nhẹ nhàng... hai chân thỏng nhẹ
bàn chân chấm đất cho vững chãi và thãnh thơi. Sư Cô
cho biết mình có mười phút để được ngồi yên. Thính
chúng rất hạnh phúc làm theo hướng dẫn sửa thế ngồi
ngay ngắn thảnh thơi, mặt ai cũng ánh lên niềm vui và
tươi mát.
11
giờ 30 Một tiếng khánh nhỏ reo lên báo tin Sư Ông bước
ra. Quý thầy quý sư cô đồng đứng dậy và bắt đầu
bài tụng ca ngợi Bồ tát Quan Thế Âm bằng tiếng Pháp.
Đây là một bài kệ Hán-việt rất xưa trong thiền môn:
Đầu
cành dương liểu vươn cam lộ,
một giọt mười phương rưới cũng đầy.
Bao nhiêu phiền lụy tiêu tan hết.
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây.
một giọt mười phương rưới cũng đầy.
Bao nhiêu phiền lụy tiêu tan hết.
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây.
Nam
mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Trí
tuệ bừng lên đóa biện tài.
Đứng yên trên sóng tuyệt trần ai
Cam lộ chữa lành bao khổ bệnh
Hào quang quét sạch nỗi nguy tai
Đứng yên trên sóng tuyệt trần ai
Cam lộ chữa lành bao khổ bệnh
Hào quang quét sạch nỗi nguy tai
Liễu
biếc phất bày muôn thế giới
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu kính lạy dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu kính lạy dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay
Bài
kệ ca ngợi đức Bồ tát Quán Thế Âm, quý Hòa thượng
giỏi kinh Hán-Việt mà cũng giỏi Pháp văn như Hòa thượng
Nhất Hạnh, Hòa thượng Thiện Châu ... mới có thể cảm
được giá trị của nó, ví dụ như câu: Trí
tuệ bừng lên đóa biện tài, đoan cư ba thương tuyệt
trần ai.
Bài này do thầy Chân Pháp Linh dịch ra Pháp văn và tự
phổ thành nhạc rồi tập cho các sư anh sư chị sư em
xuất sĩ cùng hát.
Tiếp
theo Tăng thân xuất sĩ tụng thêm bài Tào
Khê
bằng tiếng Việt. Đây là một bài kệ do Sư ông Nhất
Hạnh sáng tác, nhạc sĩ Anh Việt phổ thành nhạc. Tào
khê là tên dòng suối bắt nguồn trên núi, nơi xưa kia
Lục tổ Huệ Năng dừng chân dựng am cốc hành đạo. Từ
đỉnh núi, dòng Tào Khê chảy từ từ xuống đồng bằng,
chảy xuyên ngang tiểu bang Quảng Đông và rồi chảy mãi
về phương Đông, chảy tới thủ phủ Quảng Châu thì
trở thành dòng sông lớn... Từ chiếc am cốc bé nhỏ đó
Tổ Huệ Năng đã biến thành đạo tràng lớn tên là
Viện Phật Học Nam Hoa. Dòng suối pháp có tên Tào Khê
ấy từ đó đã chảy khắp miền Nam Trung Quốc, sang
Triều Tiên, Nhật Bản, tới Việt Nam.
Tào
Khê một dòng biếc,
Chảy mãi về phương Đông,
Quan Âm bình nước tĩnh,
Tẩy sạch dấu phong trần,
Chảy mãi về phương Đông,
Quan Âm bình nước tĩnh,
Tẩy sạch dấu phong trần,
Cành dương rưới cam lộ,
Làm sống dậy mùa Xuân,
Đề hồ trong cổ họng,
Làm lắng dịu muôn lòng,
Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị,
Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị,
Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị.
Âm
hưởng bài kệ làm lòng tôi rúng động nhớ đến công
trình vĩ đại của tiền nhân. Cám ơn thầy Chân Pháp
Linh (người Pháp-Anh) đã lột được tinh túy của bài
kệ ca tụng dòng Tào Khê và Lục Tổ.
Nếp
sống tâm linh
Bắt
đầu bài giảng hôm nay Sư Ông đi thẳng vào sự cần
thiết của đời
sống tâm linh
(dimension spirituelle). Sư Ông nói: Thế giới chúng ta đang
đi về hướng toàn cầu hóa từ kỹ thuật, kinh tế, văn
hoá, xã hội ... và thế giới cũng trên đà bị đẩy
tới - phải đối phó với nhiều khó khăn để giữ vững
nền đạo đức của con người. Khó khăn và khổ đau
nơi nào cũng có và có mỗi ngày, nhưng nếu ta luyện
được nếp sống có chiều sâu tâm linh thì ta có thể
sống nhẹ nhàng hạnh phúc hơn, có bình an hơn để gỡ
rối từ từ những khó khăn khổ đau một cách tốt đẹp.
Ai cũng cần có đời sống tâm linh dù bạn gốc đạo
Chúa, đạo Phật, hay đạo Lão, đạo Hồi hoặc Ấn Độ
giáo, hay cho dù bạn không tin trời thần quỷ vật nào,
ta vẫn phải cần có một dimension
spirituelle,
một chiều sâu tâm linh cần thiết mới giữ quân bình
và đi tới một nếp sống lành mạnh cả thân lẫn tâm.
Đức Phật có dạy chúng ta pháp môn chánh niệm để có
thể đối phó với những bức xúc bất thường của
thân và tâm và cách thực tập này không bắt buộc ta
phải tin theo Phật. Nếu thực hành thử mà ta thấy lợi
lạc thì ta có thế áp dụng những pháp môn chánh niệm
trong đời sống hằng ngày mà vẫn sống đời sống đạo
đức của gốc rễ ta, của tôn giáo, của văn hóa ta, và
không cần trở thành Phật tử như một điều kiện để
thực tập sống trong chánh niệm.
Hôm
qua chúng tôi đã trình bày rằng khi ta có nỗi khó khăn
kia hay khổ đau nọ, ta sẽ tập dừng lại, nhìn sâu, sâu
hơn để thấy nguyên nhân của nỗi khó khăn đó. Bụt
nói không có bất cứ một vật gì, một tình huống nào,
một khó khăn nào có thể tồn tại nếu không có thực
phẩm nuôi nó. Ví dụ như sự trầm cảm của ta, sự đối
xử không đẹp của người kia ... Dừng lại, bám vào
hơi thở ý thức, tách rời khỏi tâm xáo động kia để
trở về với hơi thở bình an, tâm bình an, ta nhìn sâu
hơn để thấy rằng “trong quá khứ ta đã nghĩ suy như
vậy, nói năng như vậy, hành sử như vậy nên tình huống
mới tệ như vầy, ta mới khó khăn như vầy. Ta tập
buông thư, thư giản thân và tâm nhiều lần trong ngày.
Ta tập chỉ bám vào phút giây hiện tại trong các hoạt
động hằng ngày nhờ thế định tâm từ từ lớn. Nhờ
thế có thể có những vision profonde (tuệ giác) có cái
thấy rất sâu sắc gọi là chánh kiến giúp ta thoát ra
những khó khăn khổ đau đang gánh chịu.”.
Bụt
đề nghị ta bốn bài tập chánh niệm về thân: Thở vào
tôi biết tôi đang thở vào. Thở ra tôi biết tôi đang
thở ra. Bám lấy hơi thở để đừng bị những tư tưởng
khác xen vào. Bài thứ hai ta theo dỏi hơi thở suốt chiều
dài của hơi thở vào và suốt chiều dài của hơi thở
ra. Bài thứ ba là ý thức toàn thân và buông thư toàn
thân. Bài kế tiếp là ý thức về những điều kiện
hạnh phúc đang nằm trong tầm tay ta, chế tác ngay những
niềm vui, đem những điều kiện hạnh phúc đang còn ẩn
tàng lên mặt phẳng ý thức để có niềm vui liền.
Khi
có niềm vui và quân bình ta sẽ đối phó, nhìn sâu và
sẽ đủ sáng suốt để vượt lên chuyển hóa được
những khó khăn trong bình tĩnh và sáng suốt. Có chánh
niệm thì dễ chế tác được hạnh phúc.
Thực
phẩm của thân tâm
Điều
kế tiếp là tôi muốn chia sẻ là phải có chánh niệm
về các thực phẩm cho thân tâm ta. Ta ăn bằng đường
miệng (đoàn
thực)
nhưng cũng ăn bằng đường năm giác quan: mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý (xúc
thực).
Ta cũng “ăn” bằng ý chí (tư
niệm thực)
và cũng “ăn” qua môi trường sinh sống của ta (thức
thực).
Và để giữ chánh niệm ta nên thực tập năm phép trao
dồi chánh niệm (Năm
Giới)
có thể đưa tới nền đạo đức toàn cầu.
Phép
chánh niệm thứ nhất là: Tập tôn trọng sự sống, ta
luyện để tránh không giết hại bất cứ sinh vật nào
mà còn làm mọi cách để che chở sự sống của muôn
loài.
Phép
chánh niệm thứ hai là: Thực tập hạnh phúc bằng cách
nhìn sâu để khám phá sự tương tức của mọi người,
để chia sẻ thì giờ tiền bạc tài năng mà không tính
toán kỳ thị.
Phép
chánh niệm thứ ba là: Nuôi dưỡng tình thương yêu đích
thật trung kiên trong liên hệ hôn phối, tập tứ vô
lượng tâm : thương thì phải hiểu những hoài vọng
những khó khăn của người kia, đóng góp nhiều cho hoài
vọng đó của người mình thương, sáng cho niềm vui,
chiều làm vơi nỗi khổ v.v... che chở trẻ em không bị
lạm dụng, sờ mó sàm sở.
Phép
chánh niệm thứ tư là: Tập lắng nghe sâu tập nói lời
ái ngữ.
Phép
chánh niệm thứ năm là: Biết tiêu thụ trong chánh niệm.
Tiêu thụ qua thân, không uống rượu và sử dụng ma túy.
Tiêu thụ qua tâm là không để mắt tai mũi lưỡi, thân,
ý ... tiêu thụ những sản phẩm độc hại.
Dạy
gì trong trường học?
Sư
Ông nói mấy năm trước tổng thống Pháp Sarkozy đã
tuyên bố cần đem vào học đường môn công dân giáo
dục để nâng cao đạo đức của tuổi trẻ. Nhưng ở
trường học, các giáo chức cũng không biết nội dung
nào cần phải dạy để nâng lên nền đạo đức phổ
cập? Năm 2011 khi đi California Sư Ông có khuyên thống đốc
Jerry Brown nên chỉ dạy cho học sinh cách đối trị cảm
xúc mạnh ở các trường học, cách buông thư, cách đi,
theo năm cách tu tập chánh niệm. Sư Ông kể rằng sở dĩ
Sư Ông khuyên trực tiếp ông Thống Đốc về năm giới
(năm phép tu luyện chánh niệm) là bởi vì khi ông Jerry
Brown còn là Thị Trưởng thành phố Oakland, ông vẫn hay
mời Sư Ông đến hướng dẫn môt ngày chánh niệm ở
thành phố này mỗi khi Sư Ông hành hóa sang Hoa Kỳ (hai
năm Sư Ông sang Hoa Kỳ một lần). Sau đó ông Jerry Brown
báo cáo là sở dĩ ông phải mời Sư Ông đến dạy là
ông kiểm chứng thấy sau một ngày chánh niệm cho thành
phố thì cường độ bạo động và số tội phạm pháp
giảm rất nhiều.
Sư
Ông cho biết Làng Mai đã bắt đầu hướng dẫn các khóa
tu cho thầy cô giáo để họ về dạy học sinh những
thực tập chánh niệm cần thiết. Như hôm cuối năm
2011, Làng có tổ chức khóa tu chánh niệm dành cho giáo
viên và giáo sư một tuần lễ từ 27-12-2011 đến
03-01-2012 và đầu năm 2012 Sư Ông và các giáo thọ Làng
Mai đã tổ chức nhiều khóa tu cho giáo chức rãi rác
trên các nước như Anh quốc, Ái Nhĩ Lan (tháng 3 và tháng
4 năm 2012), Ấn Độ, Bhutan (tháng 9 này) ... Sư Ông nghĩ
rằng các giáo thọ Làng Mai đi hướng dẫn các giáo viên
ở nhiều nơi là việc làm mà Sư Ông rất quan tâm như
một gia tài rất quý cho thế hệ các cháu trên toàn cầu.
Một
giờ thuyết giảng trôi qua. Thính đường đông nghẹt
ngồi yên suốt mấy giờ liền mà vẫn không có lấy một
tiếng động dù rất nhỏ, không có lấy một tiếng
chuông điện thoại di động reo. Tất cả - tôi xin nhấn
mạnh hai chữ "tất cả" - mọi người đều ý
thức tự trọng rất cao, hết lòng lắng nghe Sư Ông
giảng như uống từng giọt nước cam lộ đúng nghĩa của
bài kệ mở đầu pháp thoại. Đảo một vòng từ trên
xuống dưới, từ dưới lên trên qua sắc thái trên mặt
cũng như ánh mắt, nụ cười của họ, tôi có cảm giác:
ai cũng ý thức được tầm quan trọng của đời sống
tâm linh, một điều kiện cần để duy trì đạo đức,
dựng xây hạnh phúc. Và để thực hiện được những
việc ấy người ta cần phải có những pháp môn thực
tập, cần được đào tạo cả ba cấp độ: cá nhân,
gia đình, và học đường. Qua hai buổi giảng Sư Ông đã
cung cấp cho họ đầy đủ các nhu yếu ấy nên mặt ai
cũng ánh lên nét hân hoan.
12
giờ 30 Sư Ông chấm dứt bài giảng để dành thì giờ
cho thính chúng đặt câu hỏi, trước khi nghỉ giải lao
và thực tập ăn trưa trong chánh niệm. Và sau nữa là
thiền hành, thiền buông thư, thiền lạy, ... cho tới
chiều tối.
Hỏi:
Một phụ nữ Á châu hỏi Sư Ông: Theo đạo Phật rồi
ai cũng sống độc thân thì xã hội ra sao. Như tôi đây
tôi có ba con, con đau, làm sao mà lo cơm nước thuốc men
nhà cửa tiền bạc con cái nếu thực tập đạo Phật
như Thầy nói?
Đáp:
Với mắt nhìn cảm thương cho cô nghe mà hiểu không được
bao nhiêu, Sư Ông từ bi nhắc lại rằng: Cô không cần
phải theo đạo Phật nhưng thực tập chánh niệm vẫn
được, trong bài này tôi không có khuyên ai cạo đầu
sống độc thân để thực tập chánh niệm hết. Tại cô
nghe không rõ. (Nhưng tôi, kẻ đúc kết bài này muốn
thưa với cô ấy rằng: Cô ơi, cô chỉ có ba con, còn
Thầy tôi có gần tám trăm đứa con. Mỗi khi trở trời
cô có một đứa con bệnh. Nhưng với đàn con đông đúc
ấy Thầy chúng tôi sẽ không có một đứa bị bịnh, mà
có khi năm đứa ở Pháp, một đứa ở Hongkong, sáu đứa
bên Thái Lan, tám đứa ở California ... cùng ngả bịnh
một lúc nhưng tất cả vẫn thực tập chánh niệm được
như thường. Nói cách khác, nhờ thực tập sống trong
chánh niệm, chúng tôi không bị khổ đau ràng buộc sai
sử nên có cách xử lý vấn đề gọn hơn, chính xác
hơn, và luôn luôn sống rất thảnh thơi hạnh phúc).
Hỏi:
Xin thầy cho biết vai trò của văn hóa trong
chánh niệm?
Đáp:
Có chánh niệm mới nhìn sâu, nuôi dưỡng và làm khởi
sắc văn hóa và giáo dục. Trong Kinh Bụt có nói : Trong
mỗi chúng ta, có một cái mà nếu không nuôi dưỡng nó
sẽ có sức tàn phá kinh hồn. Nhưng nếu biết nuôi dưỡng
thì nó trở nên mầu nhiệm và giàu có. Đó là cái tâm
của con người. Nuôi dưỡng để tưới tẫm những hạt
giống lành trong ta và đừng để cho gai gốc cùng những
hạt giống bất thiện hoành hành. Nuôi theo con đường
Năm
Phép Tu Tập Chánh Niệm.
Là con đường thoát cho xã hội ngày nay.
Hỏi:
Tôi là y sĩ, tôi có nên để cho bệnh nhân tu
tập chánh niệm để tập cho cái thân tự chuyển hóa
vượt thắng bệnh hoạn hay cứ cho thuốc để giảm đau
giảm bệnh?
Đáp:
Chánh niệm trong bác sĩ sẽ chỉ cách cho bác sĩ nên theo
phương pháp nào với người bệnh nào trong trường hợp
nào. Y khoa không có một toa thuốc chung cho tất cả các
bệnh nhân. Chúng tôi có. Trong mấy chục năm qua hướng
dẫn nhiều khóa tu chánh niệm cho giới y sĩ. Vì làm việc
quá tãi nên đánh mất tâm thương yêu ban đầu của
người phụng sự nhân loại. Có chánh niệm, có thư
giãn, có biết chăm sóc cái tâm của mình thì người
phụng sự sẽ làm giỏi và hữu hiệu hơn.
Hỏi:
Sống trong môi trường ồ ạt, tất bật, quýnh quán như
Paris làm sao để giữ tâm bình an, ăn uống cho có chánh
niệm được, làm sao để cho con cái mình giữ tâm tử
tế được?
Đáp:
Khi dạy về 4 loại thức ăn cho thân và tâm, thời còn
tại thế, Bụt nói về thức ăn qua đường miệng (đoàn
thực) Bụt thuật câu chuyên thật của một cặp vợ
chồng phải vượt biên băng qua sa mạc để tìm tự do.
Nhưng vì tính sai, họ chỉ đem thực phẩm đủ 10 ngày
đường. Đến khi hết lương thực mà đường còn xa, đi
lạc... họ đành phải ăn thịt đứa con để sống sót,
họ đau khổ vô cùng. Cũng vậy, khi ta ăn mà không chánh
niệm, thức ăn không lành sẽ tàn phá sức khoẻ, sự
sống ta ngắn lại thì giống như ta ăn thịt con ta vậy.
Thực phẩm thứ hai là xúc thực, những gì đi vào trong
ta qua đường mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nếu
không chánh niệm ta sẽ bị tàn phá bởi những gì ta
xem. Mắt: xem phim ảnh bạo động, xem những báo chí nhảm
nhí... Tai: nghe những lời chửi bới nói xấu tục tỉu,
thô bạo ... Thực phẩm thứ ba là tư niệm thực là
những khát khao hoài vọng muốn phục vụ hay muốn trả
thù… Thực phẩm thứ tư là thức thực là môi trường
mà ta đang sống có thể ảnh hưởng độc hại nếu ta
không dùng cái lưới chánh niệm để ngăn chặn những
yếu tố độc hại. Tạo dựng một nhóm bạn bè tu tập
lành mạnh để giữ nếp sống thanh bạch cho con cái
mình.
Trung
tâm kinh tế thương mãi La Défense khởi sắc
Ba
tiếng chuông chấm dứt thời pháp thoại và vấn đáp.
Sư Ông mời mọi người thực tập ăn trưa chung trong
chánh niệm ngoài Quảng trường La Défense, và sau đó là
đi thiền hành chung cũng bắt đầu từ địa điểm ấy.
Theo
dòng người nhích từng bước một khi ra được tới
tiền sảnh thì các quày sách, dvd, cd, thư pháp, thức ăn
đông cứng người nhưng rất trật tự. Thoáng chốc quày
thức ăn hết sạch, quày sách mà khi mới mở cửa bàn
nào cũng chất đầy, cộng thêm nhiều cartons còn dán kín
mà giờ đây chỉ còn lỏng chỏng vài cuốn. Nghe nói có
một bà từ Ma-rốc lặn lội qua tới đây để nghe Sư
Ông thuyết giảng và tìm mua bộ sách 52 Năm Theo Thầy
Học Đạo và Phụng Sự của Ni sư Chân Không mà không
còn một cuốn. Bà hỏi người phụ trách xin địa chỉ
nhà xuất bản để đặt mua. Nhưng khi điện thoại đến
nhà xuất bản thì cũng không còn một quyển. Tội nghiệp
hôm nay bà phải về tay không. Hết sách trên quày, người
ta xin thư mục sách của Sư Ông để tìm mua nơi những
nhà sách lớn của Thủ đô.
Quày sách, quày thư pháp chỉ còn lỏng chỏng vài tờ, vài cuốn - khách hỏi xin thư mục để tìm mua nơi khác
13
giờ 45 người tham dự ngày chánh niệm đem thức ăn,
nước uống lên Quảng Trường ngồi thành từng nhóm
nhỏ. Mọi người đem thức ăn ra, nhìn kỷ thức ăn và
bắt đầu ăn trong thư thả, thưởng thức từng khúc
bánh mì bì, bánh mì cặp chả, từng miếng táo, từng
miếng lê. Ăn thong thả như có cả thời gian vô tận để
nhâm nhi thưởng thức mùi thính trộn trong bì (chay làm
bằng khoai lang tây) thơm thơm. Lâu quá chưa được ăn
bánh mì bì. Cũng là lát táo thường ngày sao hôm nay nó
ngon dữ vậy? Vị ngọt ngọt chua chua dòn của thịt táo
giống nhu quả táo đầu tiên tôi được ăn ngày xửa
ngày xưa ở Sài Gòn.
Ăn
vừa xong uống vài ngụm nước là Sư Ông đã tới. Sư
Ông ngồi xuống giữa các thiền sinh, chia sẻ sự thực
tập trông thân thương gần gũi hơn khi ngồi trên toà
diễn thuyết. Sư Ông dạy chúng ta để cái tâm vào sự
va chạm của chân ta và nền đường ta đi. Để tâm ta
vào phút giây hiện tại để thấy trời xanh, mấy trắng,
mặt người thương đi kề bên mình. Để tâm trong phút
giây hiện tại để thấy ta là một dòng sông của sự
sống làm bằng hằng ngàn người cùng đi trong im lặng
trong thảnh thơi, đi như ăn mừng sự sống.
Hằng
mấy chục nhà cao tầng chọc trời lạnh lùng bao quanh
Quảng trường La Défense bỗng nhiên trưa nay sáng rực
những người là người áo quần thanh nhã, đi đứng
đoan nghiêm thuộc nhiều màu da trắng vàng đen. Lác đác
vài mươi chiếc nón lá trên chiếc áo nâu dài. Họ đi
như một dòng sông người, im lặng thảnh thơi, mặt ai
cũng tươi như hoa. Vài người khách qua đường tới gần
hỏi: Quý vị làm cái gì vậy? Sao đông vậy mà không có
YÊU SÁCH, không hoan hô đã đảo gì hết vậy? Ai cũng
cười thương những người tò mò mà cũng khó giải
thích.
Đoàn
người đi hàng ngang dày chừng mười tới mười hai mét
và dài thì mút mắt, đứng đàng đầu không thấy được
đàng đuôi, và ngược lại. Có lẽ hơn 3000 người.
Đi suốt chiều dài của Quảng trường La Défense, đoàn người quay về bên phải có nhiều bóng mát của các ngôi nhà chọc trời. Sư Ông nắm tay hai bé và đoàn người ngồi xuống. Nhiều trẻ em cũng chạy đến ngồi quanh Sư Ông. Thầy trò ngồi xuống lặng im mà nhẹ nhàng. Nhiều thiền sinh lần đầu được ngồi gần gủi Sư Ông, bấm máy hình lia lịa. Thầy đang cười thảnh thơi thì Chương TrìnhSagesse Bouddhique của đài truyền hình Antenne 2 xin phỏng vấn vài câu. Thầy mỉm cười gật đầu. Nhóm chuyên viên truyền hình rất ngạc nhiên là trẻ em nhỏ xíu 5 tuổi mà cũng nắm tay Sư Ông cùng đi trong chánh niệm? Họ rất lấy làm thú vị trước hình ảnh này.
18
giờ Sagesse Bouddhique phỏng vấn sư cô Chân Không về
buổi thực tập tối nay cho 300 thiền sinh đã ghi tên ở
lại.
18
giờ 30 – 19 giờ Thiền buông thư. Rất tiếc đoạn sau
này Antenne 2 đã về nên không thu được phần tiếp xúc
với tổ tiên và không sợ chết. Cũng không thu được
những chia sẽ kết quả thiết thực cho những người
vừa mất người thân.
19
giờ đến 19 giờ 30 Tiếp xúc với tổ tiên. Cái lạy
thứ nhất: thực tập để cảm nhận cha mẹ ông bà
trong giòng huyết thống sống dậy trong mình. Cúi xuống
lạy để đưa vào đất những tánh tiêu cực của cha mẹ
ông bà. Cái lạy thứ hai để làm sống dậy những tinh
ba của tổ tiên đất nước sinh ra mình, và những vị
tổ tiên ở các nước mà mình định cư. Cúi xuống đất
để trút xuống đất tiêu cực bạo động, kỳ thị,
tham nhũng bè phái. Cái lạy thứ ba để tiếp xúc với
tổ tiên tâm linh, những con người đẹp đã ảnh hưởng
đến cách hành xử của mình hướng về chân thiện mỹ
trong những lúc đau buồn khó khăn nhất.
19
giờ 30 đến 20 giờ 00 Tiếp xúc với đất mẹ để vượt
thoát sự sợ chết
20g
đến 20g 45 : Thiền sinh đặt câu hỏi với Sư Cô để
được chỉ cách nào mà thấy người thân chưa bao giờ
chết cả.
Tăng
thân du mục,
Khóa
tu mùa Hè bốn tuần lễ tại Làng Mai vừa kết thúc là
Sư Ông và Tăng đoàn lại lên đường cho chuyến hoằng
pháp chung quanh các nước châu Âu như Đức, Hòa Lan, Ý
liên tục thêm sáu tuần lễ nữa trong khi Sư Ông đã hơn
86 tuổi rồi mà ngày nào cũng pháp thoại, không nói pháp
thoại thì cũng dịch kinh, viết sách, chăn dắt đàn con
xuất sĩ bảy tám trăm đứa, đã vậy còn viết thư pháp
cho học trò bán lấy tiền nuôi các cháu nhỏ trong gần
năm trăm lớp học Tình Thương ở Việt Nam. Thực lòng
tôi rất lo ngại cho sức khỏe của Sư Ông và rất
thường hay tự hỏi, với ngần ấy tuổi sức đâu mà
Sư Ông lại làm việc khỏe đến như người trẻ cũng
không theo kịp? Liên tục di chuyển từ bán cầu này qua
bán cầu khác chênh lệch nhiều muối giờ ấy vậy mà
chân vừa chạm đất là làm việc ngay tức thì. Trong khi
rất nhiều cụ già ở tuổi ấy đã phải chống gậy,
hoặc đã đi xe lăn rồi. Thắc mắc mãi mà không có câu
trả lời, thét rồi tôi trộm nghĩ: chỉ có năng lượng
từ bi, và tuệ giác mới đủ sức nhiệm mầu cho hành
hoạt của Sư Ông mà thôi.
Biết
Sư Ông và Tăng đoàn của Người đã tới Paris - chặn
cuối của vòng hoằng pháp châu Âu ; Biết Tăng thân gần
hai trăm vị xuất sĩ của Người cũng đã từ Làng Mai
lên Thủ đô mấy ngày nay và đang cắm trại bên bờ
sông Marne ... Vậy mà tôi cứ bị chôn chân trong sở làm
không cách nào tới thăm được. Đã vậy, tối hôm qua
còn đọc được tin nhắn của anh Long là ai có mền xin
cho mượn vì quý thầy sư cô ở trại rất lạnh... Tôi
đứng ngồi không yên, chỉ mong đến ngày nghỉ cuối
tuần để được thăm Sư Ông và tất cả Tăng thân của
Người.
Tôi
đến nơi thì được tin là Sư Ông đã qua bên trại thăm
các con bên đó rồi. Hay quá! tôi dong liền qua bên ấy.
Trại nằm bên bờ sông Marne nước trong xanh rất nên thơ
và yên tĩnh, có cỏ xanh, giậu kiểng cắt tỉa ngay hàng
thẳng lối phân lập thành từng ô để cắm lều, có
điện, nước đầy đủ do tòa thị chính quản trị cho
thuê. Nghe đâu mình phải trả cho mỗi mặt bằng của
một cái lều cho một người ở là 9€/ngày. Nếu ở
thêm người thứ hai, thứ ba, tối đa là bốn người thì
phải trả thêm cho mỗi người là 3€/ngày, vị chi 18€
cho bốn người ở một ngày. Có lẽ thấy quý thầy quý
sư cô còn trẻ mà mặt người nào cũng sáng, lúc nào
cũng cười, điệu bộ đi đứng nghiêm trang thanh thảng,
nhứt là ăn nói rất dễ thương cho nên người có trách
nhiệm Quản lý đã cho mượn mấy cái kều lớn làm kho
chứa thực phẩm, làm khu nấu ăn. Tăng thân chia trại
làm hai khu biệt lập, một khu dành cho chư Tăng và một
khu dành cho chư Ni. Nơi này vài thầy đang chấp tác vệ
sinh lều bếp, nơi kia một số sư cô kiểm điểm lương
thực, nơi nọ chú tiểu ngồi thiền học kinh, xa xa một
nhóm thầy đi thiền hành, ...
Chứng
kiến cảnh tượng này, trong thoáng chốc, hình ảnh Tăng
đoàn của Bụt tạm trú sinh hoạt trong những rừng cây
trên những bước đường du hóa được Sư Ông thuật
lại trong sách Đường Xưa Mây Trắng đã thành hiện
thực trước mắt tôi. Nếu quý vị đã đọc sách Đường
Xưa Mây Trắng sẽ hình dung được cảnh trí này ở đây
trong ngày hôm nay không khác chi cảnh trí trong sách đã
diễn ra cách nay 26 thế kỷ.
-
Sư
Ông ở bên này, chú qua đi.
Tiếng gọi trả tôi về thực tại, quay người theo hướng
âm thanh thì thấy cánh tay vẫy của một sư cô nhỏ ở
phía bên kia hàng giậu... Hai thầy trò chào nhau bằng mắt
vì cách nhau một quảng khá rộng. Tôi không ngờ Sư Ông
gầy và sạm đi hơi nhiều so với lần gặp cuối cùng ở
Làng Mai hôm kết thúc khóa tu mùa Hè. Nhưng không phải
là cái gầy của người đau yếu mà là cái gầy gân
guốc và đầy uy lực của một người năng động. Sư
Ông nhìn tôi cười thật tươi, và bảo: "Trại của
mình đẹp quá, vui quá, hạnh phúc quá phải không, ..."
Sư Ông chưa dứt lời quý thầy, quý sư cô đang quây
quần theo chân Sư Ông đã cất tiếng hát:
Ta
hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa
Có chi để làm
Học buông thả
Sống không vội vàng.
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa
Có chi để làm
Học buông thả
Sống không vội vàng.
Ta
hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi cũng tới
Thấy chi cũng làm
Lòng thanh thản
Sống trong nhẹ nhàng.
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi cũng tới
Thấy chi cũng làm
Lòng thanh thản
Sống trong nhẹ nhàng.
Tôi
tranh thủ lấy máy ghi lại khoảnh khắc tuyệt đẹp này.
Đưa
sư bà Như Tuấn trở lại thiền đường Hơi Thở Nhẹ,
tôi đi vòng ra phía sau tìm thăm quý thầy, vì nghe nói
thiền đường đang có bốn mươi ba vị xuất sĩ tá túc
nên thế nào cũng phải cắm lều đâu đó ở phía sau.
Kia rồi, mấy thầy đang uống trà bên chiếc bàn dã
chiến đặt dưới tàng cây, chung quanh là mấy cái lều.
Vừa đưa máy lên ngắm chưa kịp bấm là tiếng thầy
Minh Mẫn mời ra uống trà. Sau khi trao đổi vài câu thăm
hỏi, một thầy đưa nhận xét: "Tăng thân mình sống
như du mục, bây giờ đang ở đây, vậy mà biết đâu
ngày mai lại nhổ trại qua Mỹ, sang Thái rồi đến
Hongkong hay về Bordeaux, rồi lại qua Úc ... mà ở đâu
cũng có rừng có núi để dựng trại ; ở đâu cũng có
chúng sinh cho mình phục vụ ; đi đâu, ở đâu cũng có
an lạc hạnh phúc thì còn mong cầu chi nữa." Thế là
chúng tôi có đề tài so sánh giữa Tăng thân hôm nay với
tăng đoàn thời Bụt tại thế bên Ân Độ không có gì
khác nhau từ nội dung tới hình thức dù đã cách nhau
tới hai ngàn sáu trăm năm. Với tôi, được gặp Sư Ông,
được chuyện trò thăm hỏi Tăng thân, được chứng
kiến cảnh tượng này đã là phúc đức lớn lắm rồi.
Dễ gì có đủ duyên tiếp xúc được một Tăng thân
tỉnh thức trong cái thế giới mênh mông đầy uyển hoặc
này.
Tay
trong tay
Phật
tử Thái cúng dường Tăng thân
Tin Tăng thân Làng Mai gần hai trăm vị xuất sĩ lên Paris
cùng Sư ông Nhất Hạnh hoằng pháp đang cắm trại bên
bờ sông Marne một nhóm Phật tử người Thái đã tới
thăm hỏi và xin được cúng dường Tăng thân một ngày
cơm. Nghe nói trong số họ có vài gia đình làm chủ nhà
hàng ăn tại Trung tâm Paris đã quyết định đóng cửa
tiệm ăn mấy ngày để nấu cơm chay mang tới tận trại
và thiền đường Hơi Thở Nhẹ cúng dường Tăng thân.
Mới 10 giờ sáng mà họ đã chở thức ăn tới tận nơi.
Thấy họ ở trong lều tiếp khách cũng là nơi dùng làm
phòng ăn nhưng tôi không có dịp tiếp xúc thăm hỏi, mà
chỉ được chắp tay búp sen xá dài và sâu với niềm
trân trọng và kính ngưỡng tâm từ bi và lòng tín mộ
sáng đẹp ấy. Tuy nói là cúng hai trăm phần ăn mà lượng
cơm, thức ăn, bánh trái họ mang tới có thể dành cho ba
trăm người ăn cũng không hết.
Những
bàn tay Bồ Tát Chiều hôm trước ngày bắt đầu
Pháp thoại vừa về tới nhà là được tin từ anh Long
kêu cứu là trời đổ lạnh bất thường các thầy cô
ai cũng bịnh vì ngủ không đủ ấm, ai có dư mền, túi
ngủ xin mang tới trại cho mượn. Trời ơi, tôi ở xa quá
lại mới đi làm về tới làm sao giúp được gì, mà nhà
cũng chỉ dư được có vài cái túi ngủ trong khi Tăng
thân có tới một trăm bảy mươi vị lấy đâu ra ngần
ấy mền. Tức tốc phôn hỏi thăm thì được chị Ngọc
Anh cho biết là anh Long đang trên đường chở mền tới
trại, tôi mừng quá! Sao anh này hay quá vậy, tìm đâu ra
ngần ấy mền mà mau vậy. Chị Ngọc Anh nói làm sao đủ
được, tụi này quơ hết cả nhà, hỏi thêm hàng xóm
được đâu chừng vài chục cái thôi. Ngoài ra bên anh Vũ
cũng đang đi gom có lẽ cũng được thêm mấy chục cái
nữa chắc cũng đang trên đường tới trại đó. Tôi
thầm cám ơn tấm lòng của những vị Bồ Tát đã hết
lòng lo cho Tăng thân. Các anh chị Tăng thân cư sĩ người
Việt nhận lo ẩm thực, chuyên chở, di chuyển cho Tăng
đoàn thức khuya dậy sớm rất cực nhọc vậy mà ai cũng
vui vẻ hạnh phúc, lúc nào cũng cười thật tươi. Khó
nhứt là vụ chủ xe cars đưa đón một trăm bảy chục
vị xuất sĩ từ trại đi Paris-La Défense đòi lên giá
vào giờ chót, mà phải chi họ đòi một vài trăm mình
cũng có thể chịu được, đàng này họ đòi tới cả
nghìn bạc gây sốc cho nhiều người, nhất là anh Long và
sư cô Đào Nghiêm là hai người có trách nhiệm trực
tiếp.
Quyết
định sau cùng là đành phải dùng đường xe điện ngầm,
và huy động xe con của Phật tử. Thế nhưng việc đâu
lại vào đó, chỉ trước giờ khởi hành có vài ba tiếng
đồng hồ phía chủ xe gọi lại là họ đồng ý và chỉ
xin thêm một trăm € thôi. Âu cũng là một phép lạ! Bên
cạnh đó còn có các anh, các chị, các cháu như: Nhóm
trẻ Wake Up Paris mà chủ chốt là Quỳnh Hương, Quỳnh
Lan ; Nhóm cư sĩ OI do chị Minh Tri, chị Châu Francine,
Michelle Pillot ; Sangha Marseille ; Nhóm UBF (Liên Hiệp Phật
Giáo Pháp) ; Gia đình Jardin de l’Instant và Toàn thể Tăng
thân cư sĩ nói tiếng Pháp. Mỗi nhóm một tự nhận một
trách nhiệm, một bộ phận trong bộ máy vận hành. Tất
cả đều thể hiện tinh thần Bồ tát, một tình huynh đệ
gắn kết thành một cơ thể, mỗi cá nhân là một tế
bào của Tăng thân tỉnh thức.
Chân
Nghiêm & Lê NguyênNguồn
link:
http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/TDTS_8/8_divaochanhniem.htm
Subscribe to:
Posts (Atom)




