Search This Blog

Showing posts with label ABC VỀ THIỀN. Show all posts
Showing posts with label ABC VỀ THIỀN. Show all posts

Saturday, December 17, 2016

CHỤP TẠI TÒA ĐÔ CHÁNH , KHOẢNG NĂM 1972-73 .





Thursday, September 15, 2016

KHÁI NIỆM "TRẢ NỢ DỒN" .
Theo Numerology cũng như Phật giáo , trả nợ dồn là trường hợp bạn có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ trong các kiếp trước , tới kiếp này bạn quyết định TRẢ DỨT ĐIỂM để kiếp sau có cuộc sống thanh thản .
Cũng giống như 1 người buôn bán , trong tháng cuối cùng của năm , y chạy ngược chạy xuôi để trả hết nợ để năm tới y được thanh thản vì hết nợ . 
Một ví dụ khác : một học sinh suốt năm học mãi mê chơi bời , sắp tới ngày thi y quýnh quáng học ngày học đêm để có thể thi đậu .
Theo Numerology , những người sanh ngày 4 , 8 , 13 , 17 , 22 , 26 , 31 hay có tên cộng lại bằng các số này ĐỀU NGHĨ RẰNG họ đã có nhiều nợ nần CHƯA TRẢ từ các kiếp trước , nay trong kiếp này quyết định trả hết ; nghĩa là sẽ chấp nhận mọi đau khổ , nhục nhã , chửi bới , v.v... để kiếp sau được thanh thản .
Tôi biết 1 cô sanh ngày 13 , có tên cộng lại cũng bằng 13 , lúc khoảng 13 tuổi bị tai nạn xe cộ gây tàn phế gần như vĩnh viễn . Cha mẹ y quá đau khổ : dựa vào Numerology tôi giải thích , do y đã chọn kiếp này để trả nợ dồn nên y đã chấp nhận mọi đau khổ do tàn phế gây ra cũng như chế nhạo , nếu có , của một số người khi thấy y bị tàn phế như vậy . Tôi khuyên gia đình nên động viên y để cố gắng chịu đựng đau khổ cũng như mọi chế nhạo .
Năm 1975 , cũng bằng 4 vì 1 + 9 + 7 + 5 = 22 = 4 = trả nợ dồn . TT Thiệu , TT Khiêm , tướng Phú đều có tên bằng 13 ; còn tiếp .

Thursday, August 27, 2015

Hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hiện tại
- Cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại. 
  
(Bài này do một ng quen ở bang Washington gửi , vì thấy nó có giá trị nên đăng lại tren blog mình và xin chia xẻ đến các bạn . Tựa bài do tôi đặt -- Tài) .


"Thank chị D. H. !
"Đã đưa một câu chuyện câu chuyện cảm động. Quá để cho H. hiểu thêm về  những tương quan trong đời sống: tình yêu, cái chết. Cũng để hiểu chắc chắn cái đáng trân quý nhất là tìm lại được nhau, có nhau, "I love you too" "trong hiện tại.
Hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hiện tại"

TÌNH YÊU
Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật!
“Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
“Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!”
Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
“Con chơi, con phải “take care” nó đó!”
“Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!”
“Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
“Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!”
Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến.
“Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!”
Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
“Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương nhưng thiện cảm thì không! Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm.
Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi.
Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
Duy la lên:
“Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế!
Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
“Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy!
Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
“Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?” “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
“Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
“Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
“Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
“Cậu con bà có thích con Joshua không?”
“Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
“Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
Hương chép miệng:
“Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách.
Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
“Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
“Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
“Chúc bà may mắn!”
Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven. Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
“Alice Park! Alice ..Park!”
Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home. Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn bạc thếch theo với thời gian. Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp.
Những đôi mắt u uẩn hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt mà những ngôn từ, động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia.
Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào ngửng lên nhìn Hương mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
“Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh: “Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong rồi quẹo trái, đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
“Cám ơn cô nhé!”
Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
“Nó tên gì vậy bà?”
“Joshua!”
“Hi Hoshua! Hi!”
Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú. Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:”Nó thích đàn bà, con gái mẹ à!” Mà có lẽ thế thật!
Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng. Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa, Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất.
Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia mà đã có một lần họ đã sống qua. Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô độc chăng?
Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong.
Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi.
Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama!”
Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan. Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào. Chỉ có đôi mắt chớp khẽ. Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống.
Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
“Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại. Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị. Làm như thế gian này chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất, không có gì có thể chia lìa. Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên. Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà. Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.
Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được. Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua:
“I love you too. Joshua! Mama love you!”
Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
“He hurt me!”
Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
“My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore. Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua?”
Joshua lập lại y hệt như vậy:
“Do you miss me, Joshua?”
Bà lão bật cười:
“No! Do you miss me, Mama?”
Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
“No! Do you miss me, Mama?”
Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
“Cô mang Joshua đến đây?”
Câu hỏi này thay cho câu hỏi: “Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi. Hương thấy ngay điều này nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
“Vâng!”
Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây. Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi nên Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành. Một đành đoạn chia ly tất nhiên! Nàng dựa lưng vào băng ghế nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu rồi lìa cành. Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất, có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống, có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất để tiếc thương thay cho những chiếc lá đã bỏ đi trước? Nhưng có một điều chắc chắn những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa. Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống, tình yêu, nỗi chết, rồi cũng chỉ như thế thôi!
Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy?
Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau, có nhau, cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa và những ngày kế tiếp có còn đến nữa hay không!
Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: "2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về. Joshua phải trở về căn phòng của Duy và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống, chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!
Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa. Joshua đang đậu trên thành giường, còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người: nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn. Trông bà ta có vẻ mệt mỏi. Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi nhìn Hương rồi hỏi: “Cô quen thế nào với bà Alice?”
Hương chỉ con Joshua:
“Qua con két này!”
“Thật à?”
Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
“Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
“Cô tử tế quá!”
Lần đầu tiên từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu: “Joshua! Đến lúc phải đi về..”
Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật. Hương đến gần, nó càng nhích đi xa, mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
“Joshua!”
“Mama!”
Cô y tá thích thú kêu lên:
“Ồ nó nói được!”
“Go home, Joshua! Go home!”
Nó lập lại lời bà Alice:
“Go home! Go home!”
Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
“Love ya, Mama! Go home!”
Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
“Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
“Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu: “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
Hương lặng im.
Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice. Chỉ giữa con két xanh và bà lão. Nó bay lên và đậu vào vai Hương nhưng vẫn kêu lên: “Love ya Mama!”
“I love you too, Joshua!”
Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
“Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây.. Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì.. vui lắm.”
Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice và nhẹ nhàng nói:
“Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
“Cám ơn cô.. cám ơn cô nhiều lắm!”
Nàng đi ra và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian.
Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương?
Mặc Bích

Tuesday, November 4, 2014

Saturday, June 22, 2013

 CÀ RI VÀ MẤT NGỦ - VIÊM ĐA XOANG - GAI CỘT SỐNG

Chào cháu ,
A . Thời gian gần đây bác thường xuyên mất ngũ , thức tới 3-4 g mới chợp mắt . Hồi đầu , bác nghĩ là do bị stress , vì bác bị depression từ lâu .
Bác thường xuyên ăn món CÀ RI gà , có khoai tây cà rốt . Bác để ý hôm nào KHÔNG  ăn cà ri thì ngũ được ; thế là , bác nhận ra : ăn cà ri gây mất ngũ .
Đây là do cơ thể bác DỊ ỨNG với cà ri ; chứ đàn bà , con gái Ấn độ , ỡ Mỹ này , đứng gần họ là có mùi cà ri . Vì họ ăn rất nhiều và hàng ngày nên cà ri đã vô máu và biến thành hơi thở  ; ý cũa bác , là ngay cã trước đó , họ ko ăn cà ri nhưng vẫn có mùi trong hơi thở .
B . Sau đây là vài nguyên nhân cũa viêm đa xoang - mà cháu bị từ nhỏ :
"1/Do cơ địa DỊ ỨNG một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biến chất, làm cho niêm mạc (màng nhày) mũi phù nề, gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.
2/ Sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn,  SUY GIẢM MIỄN DỊCH , suy yếu niêm mạc dường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân viêm xoang kèm theo viêm một số bộ phận khác."
C .  HỆ MIỄN DỊCH cũa cháu , vì một lý do nào đó , đã trigger một cái lịnh khiến cho cháu mọc GAI trên xương sống .
Trong khi đó : với thể chất yếu đuối từ trước (ba cháu + bác Bình biết rỏ , tướng tá bác như dân nghiện sì-ke) , khi vào tù  ăn uống thiếu thốn , lại thường xuyên khiêng vác gổ nặng trên núi , mà bác đâu có bị đau xương sống hay gai cột sống . Đã vậy bác còn bị loãng xương (osteaomalacy) do suy dinh dưỡng từ nhõ , nên dễ bị gẫy xương nếu bị té . . .
Cháu chịu khó tập yoga hay thiền , kết hợp với uống thuốc . Vì yoga/thiền giúp mình ko suy nghĩ nhiều > mất ngũ . Người Mỹ này , do cuộc sống căng thẵng , sợ thất nghiệp , vợ/chồng li dị , v.v... . . . sợ đủ thứ chuyện nên nhiều người bị STRESS . Thành ra họ đã nghiên cứu nhiều và khuyên tập thiền (MEDITATION) . Ở TP nào cũng có nhiều Meditation Center .

Monday, October 8, 2012

oprah winfrey đàm đạo với thiền sư nhất hạnh .

http://langmai.org/cong-tam-quan/Thich-Nhat-Hanh/oprah-dam-dao-voi-thien-su-nhat-hanh

Wednesday, October 3, 2012

Chánh Niệm cho một nền đạo đức toàn cầu


Thế giới chúng ta đang đi về hướng toàn cầu hóa từ kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, xã hội ... và thế giới cũng trên đà bị đẩy tới - phải đối phó với nhiều khó khăn để giữ vững nền đạo đức của con người. Khó khăn và khổ đau nơi nào cũng có và có mỗi ngày, nhưng nếu ta luyện được nếp sống có chiều sâu tâm linh thì ta có thể sống nhẹ nhàng hạnh phúc hơn, có bình an hơn...
Sáng chủ nhật 16 tháng Chín 2012, đường RER và Métro đến chỗ Thiền sư Thích Nhất Hạnh giảng rất tiện nhưng tôi dại quá cứ nghĩ là ngày Chủ nhật dân Paris không đi làm thành phố vắng xe. Thế nên tôi ngồi ô tô, nhưng xe vừa tới vòng đai Thủ đô mới biết Paris có Lễ Humanité nên xe kẹt như niêm. May là đi sớm, nếu chờ tới cận giờ mới đi thì coi như đến trể là cái chắc.
Cuối cùng rồi cũng tới nơi, mọi khâu chuẩn bị đã đâu vào đó. Gian hàng sách có tới ba bàn dài chất đầy hàng trăm tựa sách tiếng Pháp của Sư Ông, các chị Minh Tri, Ấu Mai, Châu Francine,... thanh lịch tươi cười đứng sau quày sách, dưới chân còn nhiều thùng sách chưa mở sẵn sàng mời chào thiền sinh. Kế bên là quầy CD, DVD pháp thoại, thiền ca, ... Tiếp theo là quầy thư pháp đủ kích cỡ do chính tay Sư Ông viết. Góc vuông đằng kia là quầy thức ăn mà chỉ có bánh mì kẹp bì và chả chay với nước khoáng. Các chị Mai, Thủy, Hiệp, Bích, Mỹ Vân, Ngọc Anh, Kim Chính, ... ai cũng tươi cười sau quày hàng như hoa buổi sáng.
Đặc biệt, hôm nay chị Hạnh cho dựng thêm mấy chùm tre xanh biếc xếp thành hình trụ rồi nối kết lại với nhau bằng những cây tre ngang và giăng lên đó nhiều giây màu thật đẹp và đặt tên là "arbre à souhaits" để người ta dán lên đó những trái tim ghi lời chúc tụng tùy theo tâm tư của mỗi vị khách. Thế nên hôm nay mỗi người khách bước vào cửa đều được phát cho một miếng giấy màu hường cắt hình trái tim.
10 giờ 40 "Tiếng lành đồn xa", có lẽ nhờ âm hưởng bài giảng ngày hôm qua mà hôm nay Thiền sinh tới nghe đông hơn, họ ngồi kín cả thính đường. Tiếng hát trong trẻo trẻ trung của Ni Sư lan tỏa khắp thính đường qua một vài bài thiền ca lời Pháp có công năng khơi mở ý thức chánh niệm nơi mỗi tự thân. Vừa hát Ni Sư vừa hướng dẫn và tập thiền sinh hát theo bài Le Bonheur c’est maintenant (Hạnh phúc bây giờ).
Le Bonheur c’est maintenant
j’ai laissé tous mes soucis,
nulle part òu aller,
rien à faire.
Pas besoin de me presser.
Ta hạnh phúc liền giây phút này.
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa.
Chẳng chi để làm.
Học buông thả.
Sống không vội vàng.
  Ni sư nói: quý vị tập hát trước rồi sau đó thực tập cho được theo lời bài hát nhé! Mình phải dừng lại thật như không có đi đâu hết, không có chi để làm cả. Cho tâm mình thật yên trước đi. Rồi đoạn sau, khi tâm đã an rồi mình mới cùng hát: Le Bonheur c’est maintenant, j’ai laissé tous mes soucis, quelque part òu aller, quelque chose à faire. Mais à présent j’ai tout mon temps. (Ta hạnh phúc liền giây phút này. Lòng đã quyết dứt hết âu lo. Thong dong khi tới. Thãnh thơi lúc làm. Lòng thanh thản, sống trong nhẹ nhàng.) Tức là vẫn làm, nhưng giữ lòng bình an. Khi cần đi thì hải đi, nhưng đi cho thong dong. Công việc hằng ngày cũng phải làm, nhưng Làm với lòng thanh thản. Sống ở đâu, làm việc chi cũng nhẹ nhàng, thong thả.
Ba tiếng chuông lại vang lên báo hiệu giờ ngồi thiền trước khi Sư Ông ra thuyết pháp. Hôm nay sư cô Chân Đào Nghiêm người Pháp hướng dẫn mọi người sửa lại thế ngồi trên ghế, ngồi cho thong thả. Lưng giữ thẳng, đầu ngước lên cùng đường thẳng của sống lưng. Hai vai đừng gồng, buông thư nhẹ nhàng... hai chân thỏng nhẹ bàn chân chấm đất cho vững chãi và thãnh thơi. Sư Cô cho biết mình có mười phút để được ngồi yên. Thính chúng rất hạnh phúc làm theo hướng dẫn sửa thế ngồi ngay ngắn thảnh thơi, mặt ai cũng ánh lên niềm vui và tươi mát.
11 giờ 30 Một tiếng khánh nhỏ reo lên báo tin Sư Ông bước ra. Quý thầy quý sư cô đồng đứng dậy và bắt đầu bài tụng ca ngợi Bồ tát Quan Thế Âm bằng tiếng Pháp. Đây là một bài kệ Hán-việt rất xưa trong thiền môn:
Đầu cành dương liểu vươn cam lộ,
một giọt mười phương rưới cũng đầy.
Bao nhiêu phiền lụy tiêu tan hết.
Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Nam mô bồ tát thanh lương địa.
Trí tuệ bừng lên đóa biện tài.
Đứng yên trên sóng tuyệt trần ai
Cam lộ chữa lành bao khổ bệnh
Hào quang quét sạch nỗi nguy tai
Liễu biếc phất bày muôn thế giới
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu kính lạy dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay
  Bài kệ ca ngợi đức Bồ tát Quán Thế Âm, quý Hòa thượng giỏi kinh Hán-Việt mà cũng giỏi Pháp văn như Hòa thượng Nhất Hạnh, Hòa thượng Thiện Châu ... mới có thể cảm được giá trị của nó, ví dụ như câu: Trí tuệ bừng lên đóa biện tài, đoan cư ba thương tuyệt trần ai. Bài này do thầy Chân Pháp Linh dịch ra Pháp văn và tự phổ thành nhạc rồi tập cho các sư anh sư chị sư em xuất sĩ cùng hát.
Tiếp theo Tăng thân xuất sĩ tụng thêm bài Tào Khê bằng tiếng Việt. Đây là một bài kệ do Sư ông Nhất Hạnh sáng tác, nhạc sĩ Anh Việt phổ thành nhạc. Tào khê là tên dòng suối bắt nguồn trên núi, nơi xưa kia Lục tổ Huệ Năng dừng chân dựng am cốc hành đạo. Từ đỉnh núi, dòng Tào Khê chảy từ từ xuống đồng bằng, chảy xuyên ngang tiểu bang Quảng Đông và rồi chảy mãi về phương Đông, chảy tới thủ phủ Quảng Châu thì trở thành dòng sông lớn... Từ chiếc am cốc bé nhỏ đó Tổ Huệ Năng đã biến thành đạo tràng lớn tên là Viện Phật Học Nam Hoa. Dòng suối pháp có tên Tào Khê ấy từ đó đã chảy khắp miền Nam Trung Quốc, sang Triều Tiên, Nhật Bản, tới Việt Nam.
Tào Khê một dòng biếc,
Chảy mãi về phương Đông,
Quan Âm bình nước tĩnh,
Tẩy sạch dấu phong trần,

Cành dương rưới cam lộ,
Làm sống dậy mùa Xuân,
Đề hồ trong cổ họng,
Làm lắng dịu muôn lòng,

Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị,
Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị,
Nam mô Bồ Tát Cam Lộ vị.
Âm hưởng bài kệ làm lòng tôi rúng động nhớ đến công trình vĩ đại của tiền nhân. Cám ơn thầy Chân Pháp Linh (người Pháp-Anh) đã lột được tinh túy của bài kệ ca tụng dòng Tào Khê và Lục Tổ.
Nếp sống tâm linh
Bắt đầu bài giảng hôm nay Sư Ông đi thẳng vào sự cần thiết của đời sống tâm linh (dimension spirituelle). Sư Ông nói: Thế giới chúng ta đang đi về hướng toàn cầu hóa từ kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, xã hội ... và thế giới cũng trên đà bị đẩy tới - phải đối phó với nhiều khó khăn để giữ vững nền đạo đức của con người. Khó khăn và khổ đau nơi nào cũng có và có mỗi ngày, nhưng nếu ta luyện được nếp sống có chiều sâu tâm linh thì ta có thể sống nhẹ nhàng hạnh phúc hơn, có bình an hơn để gỡ rối từ từ những khó khăn khổ đau một cách tốt đẹp. Ai cũng cần có đời sống tâm linh dù bạn gốc đạo Chúa, đạo Phật, hay đạo Lão, đạo Hồi hoặc Ấn Độ giáo, hay cho dù bạn không tin trời thần quỷ vật nào, ta vẫn phải cần có một dimension spirituelle, một chiều sâu tâm linh cần thiết mới giữ quân bình và đi tới một nếp sống lành mạnh cả thân lẫn tâm. Đức Phật có dạy chúng ta pháp môn chánh niệm để có thể đối phó với những bức xúc bất thường của thân và tâm và cách thực tập này không bắt buộc ta phải tin theo Phật. Nếu thực hành thử mà ta thấy lợi lạc thì ta có thế áp dụng những pháp môn chánh niệm trong đời sống hằng ngày mà vẫn sống đời sống đạo đức của gốc rễ ta, của tôn giáo, của văn hóa ta, và không cần trở thành Phật tử như một điều kiện để thực tập sống trong chánh niệm.
Hôm qua chúng tôi đã trình bày rằng khi ta có nỗi khó khăn kia hay khổ đau nọ, ta sẽ tập dừng lại, nhìn sâu, sâu hơn để thấy nguyên nhân của nỗi khó khăn đó. Bụt nói không có bất cứ một vật gì, một tình huống nào, một khó khăn nào có thể tồn tại nếu không có thực phẩm nuôi nó. Ví dụ như sự trầm cảm của ta, sự đối xử không đẹp của người kia ... Dừng lại, bám vào hơi thở ý thức, tách rời khỏi tâm xáo động kia để trở về với hơi thở bình an, tâm bình an, ta nhìn sâu hơn để thấy rằng “trong quá khứ ta đã nghĩ suy như vậy, nói năng như vậy, hành sử như vậy nên tình huống mới tệ như vầy, ta mới khó khăn như vầy. Ta tập buông thư, thư giản thân và tâm nhiều lần trong ngày. Ta tập chỉ bám vào phút giây hiện tại trong các hoạt động hằng ngày nhờ thế định tâm từ từ lớn. Nhờ thế có thể có những vision profonde (tuệ giác) có cái thấy rất sâu sắc gọi là chánh kiến giúp ta thoát ra những khó khăn khổ đau đang gánh chịu.”.
Bụt đề nghị ta bốn bài tập chánh niệm về thân: Thở vào tôi biết tôi đang thở vào. Thở ra tôi biết tôi đang thở ra. Bám lấy hơi thở để đừng bị những tư tưởng khác xen vào. Bài thứ hai ta theo dỏi hơi thở suốt chiều dài của hơi thở vào và suốt chiều dài của hơi thở ra. Bài thứ ba là ý thức toàn thân và buông thư toàn thân. Bài kế tiếp là ý thức về những điều kiện hạnh phúc đang nằm trong tầm tay ta, chế tác ngay những niềm vui, đem những điều kiện hạnh phúc đang còn ẩn tàng lên mặt phẳng ý thức để có niềm vui liền.
Khi có niềm vui và quân bình ta sẽ đối phó, nhìn sâu và sẽ đủ sáng suốt để vượt lên chuyển hóa được những khó khăn trong bình tĩnh và sáng suốt. Có chánh niệm thì dễ chế tác được hạnh phúc.
Thực phẩm của thân tâm
Điều kế tiếp là tôi muốn chia sẻ là phải có chánh niệm về các thực phẩm cho thân tâm ta. Ta ăn bằng đường miệng (đoàn thực) nhưng cũng ăn bằng đường năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (xúc thực). Ta cũng “ăn” bằng ý chí (tư niệm thực) và cũng “ăn” qua môi trường sinh sống của ta (thức thực). Và để giữ chánh niệm ta nên thực tập năm phép trao dồi chánh niệm (Năm Giới) có thể đưa tới nền đạo đức toàn cầu.
Phép chánh niệm thứ nhất là: Tập tôn trọng sự sống, ta luyện để tránh không giết hại bất cứ sinh vật nào mà còn làm mọi cách để che chở sự sống của muôn loài.
Phép chánh niệm thứ hai là: Thực tập hạnh phúc bằng cách nhìn sâu để khám phá sự tương tức của mọi người, để chia sẻ thì giờ tiền bạc tài năng mà không tính toán kỳ thị.
Phép chánh niệm thứ ba là: Nuôi dưỡng tình thương yêu đích thật trung kiên trong liên hệ hôn phối, tập tứ vô lượng tâm : thương thì phải hiểu những hoài vọng những khó khăn của người kia, đóng góp nhiều cho hoài vọng đó của người mình thương, sáng cho niềm vui, chiều làm vơi nỗi khổ v.v... che chở trẻ em không bị lạm dụng, sờ mó sàm sở.
  Phép chánh niệm thứ tư là: Tập lắng nghe sâu tập nói lời ái ngữ.
Phép chánh niệm thứ năm là: Biết tiêu thụ trong chánh niệm. Tiêu thụ qua thân, không uống rượu và sử dụng ma túy. Tiêu thụ qua tâm là không để mắt tai mũi lưỡi, thân, ý ... tiêu thụ những sản phẩm độc hại.
Dạy gì trong trường học?
Sư Ông nói mấy năm trước tổng thống Pháp Sarkozy đã tuyên bố cần đem vào học đường môn công dân giáo dục để nâng cao đạo đức của tuổi trẻ. Nhưng ở trường học, các giáo chức cũng không biết nội dung nào cần phải dạy để nâng lên nền đạo đức phổ cập? Năm 2011 khi đi California Sư Ông có khuyên thống đốc Jerry Brown nên chỉ dạy cho học sinh cách đối trị cảm xúc mạnh ở các trường học, cách buông thư, cách đi, theo năm cách tu tập chánh niệm. Sư Ông kể rằng sở dĩ Sư Ông khuyên trực tiếp ông Thống Đốc về năm giới (năm phép tu luyện chánh niệm) là bởi vì khi ông Jerry Brown còn là Thị Trưởng thành phố Oakland, ông vẫn hay mời Sư Ông đến hướng dẫn môt ngày chánh niệm ở thành phố này mỗi khi Sư Ông hành hóa sang Hoa Kỳ (hai năm Sư Ông sang Hoa Kỳ một lần). Sau đó ông Jerry Brown báo cáo là sở dĩ ông phải mời Sư Ông đến dạy là ông kiểm chứng thấy sau một ngày chánh niệm cho thành phố thì cường độ bạo động và số tội phạm pháp giảm rất nhiều.
Sư Ông cho biết Làng Mai đã bắt đầu hướng dẫn các khóa tu cho thầy cô giáo để họ về dạy học sinh những thực tập chánh niệm cần thiết. Như hôm cuối năm 2011, Làng có tổ chức khóa tu chánh niệm dành cho giáo viên và giáo sư một tuần lễ từ 27-12-2011 đến 03-01-2012 và đầu năm 2012 Sư Ông và các giáo thọ Làng Mai đã tổ chức nhiều khóa tu cho giáo chức rãi rác trên các nước như Anh quốc, Ái Nhĩ Lan (tháng 3 và tháng 4 năm 2012), Ấn Độ, Bhutan (tháng 9 này) ... Sư Ông nghĩ rằng các giáo thọ Làng Mai đi hướng dẫn các giáo viên ở nhiều nơi là việc làm mà Sư Ông rất quan tâm như một gia tài rất quý cho thế hệ các cháu trên toàn cầu.
Một giờ thuyết giảng trôi qua. Thính đường đông nghẹt ngồi yên suốt mấy giờ liền mà vẫn không có lấy một tiếng động dù rất nhỏ, không có lấy một tiếng chuông điện thoại di động reo. Tất cả - tôi xin nhấn mạnh hai chữ "tất cả" - mọi người đều ý thức tự trọng rất cao, hết lòng lắng nghe Sư Ông giảng như uống từng giọt nước cam lộ đúng nghĩa của bài kệ mở đầu pháp thoại. Đảo một vòng từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên qua sắc thái trên mặt cũng như ánh mắt, nụ cười của họ, tôi có cảm giác: ai cũng ý thức được tầm quan trọng của đời sống tâm linh, một điều kiện cần để duy trì đạo đức, dựng xây hạnh phúc. Và để thực hiện được những việc ấy người ta cần phải có những pháp môn thực tập, cần được đào tạo cả ba cấp độ: cá nhân, gia đình, và học đường. Qua hai buổi giảng Sư Ông đã cung cấp cho họ đầy đủ các nhu yếu ấy nên mặt ai cũng ánh lên nét hân hoan.
12 giờ 30 Sư Ông chấm dứt bài giảng để dành thì giờ cho thính chúng đặt câu hỏi, trước khi nghỉ giải lao và thực tập ăn trưa trong chánh niệm. Và sau nữa là thiền hành, thiền buông thư, thiền lạy, ... cho tới chiều tối.
Hỏi: Một phụ nữ Á châu hỏi Sư Ông: Theo đạo Phật rồi ai cũng sống độc thân thì xã hội ra sao. Như tôi đây tôi có ba con, con đau, làm sao mà lo cơm nước thuốc men nhà cửa tiền bạc con cái nếu thực tập đạo Phật như Thầy nói?
Đáp: Với mắt nhìn cảm thương cho cô nghe mà hiểu không được bao nhiêu, Sư Ông từ bi nhắc lại rằng: Cô không cần phải theo đạo Phật nhưng thực tập chánh niệm vẫn được, trong bài này tôi không có khuyên ai cạo đầu sống độc thân để thực tập chánh niệm hết. Tại cô nghe không rõ. (Nhưng tôi, kẻ đúc kết bài này muốn thưa với cô ấy rằng: Cô ơi, cô chỉ có ba con, còn Thầy tôi có gần tám trăm đứa con. Mỗi khi trở trời cô có một đứa con bệnh. Nhưng với đàn con đông đúc ấy Thầy chúng tôi sẽ không có một đứa bị bịnh, mà có khi năm đứa ở Pháp, một đứa ở Hongkong, sáu đứa bên Thái Lan, tám đứa ở California ... cùng ngả bịnh một lúc nhưng tất cả vẫn thực tập chánh niệm được như thường. Nói cách khác, nhờ thực tập sống trong chánh niệm, chúng tôi không bị khổ đau ràng buộc sai sử nên có cách xử lý vấn đề gọn hơn, chính xác hơn, và luôn luôn sống rất thảnh thơi hạnh phúc).
Hỏi: Xin thầy cho biết vai trò của văn hóa trong chánh niệm?
Đáp: Có chánh niệm mới nhìn sâu, nuôi dưỡng và làm khởi sắc văn hóa và giáo dục. Trong Kinh Bụt có nói : Trong mỗi chúng ta, có một cái mà nếu không nuôi dưỡng nó sẽ có sức tàn phá kinh hồn. Nhưng nếu biết nuôi dưỡng thì nó trở nên mầu nhiệm và giàu có. Đó là cái tâm của con người. Nuôi dưỡng để tưới tẫm những hạt giống lành trong ta và đừng để cho gai gốc cùng những hạt giống bất thiện hoành hành. Nuôi theo con đường Năm Phép Tu Tập Chánh Niệm. Là con đường thoát cho xã hội ngày nay.
Hỏi: Tôi là y sĩ, tôi có nên để cho bệnh nhân tu tập chánh niệm để tập cho cái thân tự chuyển hóa vượt thắng bệnh hoạn hay cứ cho thuốc để giảm đau giảm bệnh?
Đáp: Chánh niệm trong bác sĩ sẽ chỉ cách cho bác sĩ nên theo phương pháp nào với người bệnh nào trong trường hợp nào. Y khoa không có một toa thuốc chung cho tất cả các bệnh nhân. Chúng tôi có. Trong mấy chục năm qua hướng dẫn nhiều khóa tu chánh niệm cho giới y sĩ. Vì làm việc quá tãi nên đánh mất tâm thương yêu ban đầu của người phụng sự nhân loại. Có chánh niệm, có thư giãn, có biết chăm sóc cái tâm của mình thì người phụng sự sẽ làm giỏi và hữu hiệu hơn.
Hỏi: Sống trong môi trường ồ ạt, tất bật, quýnh quán như Paris làm sao để giữ tâm bình an, ăn uống cho có chánh niệm được, làm sao để cho con cái mình giữ tâm tử tế được?
Đáp: Khi dạy về 4 loại thức ăn cho thân và tâm, thời còn tại thế, Bụt nói về thức ăn qua đường miệng (đoàn thực) Bụt thuật câu chuyên thật của một cặp vợ chồng phải vượt biên băng qua sa mạc để tìm tự do. Nhưng vì tính sai, họ chỉ đem thực phẩm đủ 10 ngày đường. Đến khi hết lương thực mà đường còn xa, đi lạc... họ đành phải ăn thịt đứa con để sống sót, họ đau khổ vô cùng. Cũng vậy, khi ta ăn mà không chánh niệm, thức ăn không lành sẽ tàn phá sức khoẻ, sự sống ta ngắn lại thì giống như ta ăn thịt con ta vậy. Thực phẩm thứ hai là xúc thực, những gì đi vào trong ta qua đường mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nếu không chánh niệm ta sẽ bị tàn phá bởi những gì ta xem. Mắt: xem phim ảnh bạo động, xem những báo chí nhảm nhí... Tai: nghe những lời chửi bới nói xấu tục tỉu, thô bạo ... Thực phẩm thứ ba là tư niệm thực là những khát khao hoài vọng muốn phục vụ hay muốn trả thù… Thực phẩm thứ tư là thức thực là môi trường mà ta đang sống có thể ảnh hưởng độc hại nếu ta không dùng cái lưới chánh niệm để ngăn chặn những yếu tố độc hại. Tạo dựng một nhóm bạn bè tu tập lành mạnh để giữ nếp sống thanh bạch cho con cái mình.
Trung tâm kinh tế thương mãi La Défense khởi sắc
Ba tiếng chuông chấm dứt thời pháp thoại và vấn đáp. Sư Ông mời mọi người thực tập ăn trưa chung trong chánh niệm ngoài Quảng trường La Défense, và sau đó là đi thiền hành chung cũng bắt đầu từ địa điểm ấy.
 Theo dòng người nhích từng bước một khi ra được tới tiền sảnh thì các quày sách, dvd, cd, thư pháp, thức ăn đông cứng người nhưng rất trật tự. Thoáng chốc quày thức ăn hết sạch, quày sách mà khi mới mở cửa bàn nào cũng chất đầy, cộng thêm nhiều cartons còn dán kín mà giờ đây chỉ còn lỏng chỏng vài cuốn. Nghe nói có một bà từ Ma-rốc lặn lội qua tới đây để nghe Sư Ông thuyết giảng và tìm mua bộ sách 52 Năm Theo Thầy Học Đạo và Phụng Sự của Ni sư Chân Không mà không còn một cuốn. Bà hỏi người phụ trách xin địa chỉ nhà xuất bản để đặt mua. Nhưng khi điện thoại đến nhà xuất bản thì cũng không còn một quyển. Tội nghiệp hôm nay bà phải về tay không. Hết sách trên quày, người ta xin thư mục sách của Sư Ông để tìm mua nơi những nhà sách lớn của Thủ đô.



Quày sách, quày thư pháp chỉ còn lỏng chỏng vài tờ, vài cuốn - khách hỏi xin thư mục để tìm mua nơi khác
  13 giờ 45 người tham dự ngày chánh niệm đem thức ăn, nước uống lên Quảng Trường ngồi thành từng nhóm nhỏ. Mọi người đem thức ăn ra, nhìn kỷ thức ăn và bắt đầu ăn trong thư thả, thưởng thức từng khúc bánh mì bì, bánh mì cặp chả, từng miếng táo, từng miếng lê. Ăn thong thả như có cả thời gian vô tận để nhâm nhi thưởng thức mùi thính trộn trong bì (chay làm bằng khoai lang tây) thơm thơm. Lâu quá chưa được ăn bánh mì bì. Cũng là lát táo thường ngày sao hôm nay nó ngon dữ vậy? Vị ngọt ngọt chua chua dòn của thịt táo giống nhu quả táo đầu tiên tôi được ăn ngày xửa ngày xưa ở Sài Gòn.
Ăn vừa xong uống vài ngụm nước là Sư Ông đã tới. Sư Ông ngồi xuống giữa các thiền sinh, chia sẻ sự thực tập trông thân thương gần gũi hơn khi ngồi trên toà diễn thuyết. Sư Ông dạy chúng ta để cái tâm vào sự va chạm của chân ta và nền đường ta đi. Để tâm ta vào phút giây hiện tại để thấy trời xanh, mấy trắng, mặt người thương đi kề bên mình. Để tâm trong phút giây hiện tại để thấy ta là một dòng sông của sự sống làm bằng hằng ngàn người cùng đi trong im lặng trong thảnh thơi, đi như ăn mừng sự sống.

  Hằng mấy chục nhà cao tầng chọc trời lạnh lùng bao quanh Quảng trường La Défense bỗng nhiên trưa nay sáng rực những người là người áo quần thanh nhã, đi đứng đoan nghiêm thuộc nhiều màu da trắng vàng đen. Lác đác vài mươi chiếc nón lá trên chiếc áo nâu dài. Họ đi như một dòng sông người, im lặng thảnh thơi, mặt ai cũng tươi như hoa. Vài người khách qua đường tới gần hỏi: Quý vị làm cái gì vậy? Sao đông vậy mà không có YÊU SÁCH, không hoan hô đã đảo gì hết vậy? Ai cũng cười thương những người tò mò mà cũng khó giải thích.
Đoàn người đi hàng ngang dày chừng mười tới mười hai mét và dài thì mút mắt, đứng đàng đầu không thấy được đàng đuôi, và ngược lại. Có lẽ hơn 3000 người.

  Đi suốt chiều dài của Quảng trường La Défense, đoàn người quay về bên phải có nhiều bóng mát của các ngôi nhà chọc trời. Sư Ông nắm tay hai bé và đoàn người ngồi xuống. Nhiều trẻ em cũng chạy đến ngồi quanh Sư Ông. Thầy trò ngồi xuống lặng im mà nhẹ nhàng. Nhiều thiền sinh lần đầu được ngồi gần gủi Sư Ông, bấm máy hình lia lịa. Thầy đang cười thảnh thơi thì Chương TrìnhSagesse Bouddhique của đài truyền hình Antenne 2 xin phỏng vấn vài câu. Thầy mỉm cười gật đầu. Nhóm chuyên viên truyền hình rất ngạc nhiên là trẻ em nhỏ xíu 5 tuổi mà cũng nắm tay Sư Ông cùng đi trong chánh niệm? Họ rất lấy làm thú vị trước hình ảnh này.
18 giờ Sagesse Bouddhique phỏng vấn sư cô Chân Không về buổi thực tập tối nay cho 300 thiền sinh đã ghi tên ở lại.
18 giờ 30 – 19 giờ Thiền buông thư. Rất tiếc đoạn sau này Antenne 2 đã về nên không thu được phần tiếp xúc với tổ tiên và không sợ chết. Cũng không thu được những chia sẽ kết quả thiết thực cho những người vừa mất người thân.
19 giờ đến 19 giờ 30 Tiếp xúc với tổ tiên. Cái lạy thứ nhất: thực tập để cảm nhận cha mẹ ông bà trong giòng huyết thống sống dậy trong mình. Cúi xuống lạy để đưa vào đất những tánh tiêu cực của cha mẹ ông bà. Cái lạy thứ hai để làm sống dậy những tinh ba của tổ tiên đất nước sinh ra mình, và những vị tổ tiên ở các nước mà mình định cư. Cúi xuống đất để trút xuống đất tiêu cực bạo động, kỳ thị, tham nhũng bè phái. Cái lạy thứ ba để tiếp xúc với tổ tiên tâm linh, những con người đẹp đã ảnh hưởng đến cách hành xử của mình hướng về chân thiện mỹ trong những lúc đau buồn khó khăn nhất.
19 giờ 30 đến 20 giờ 00 Tiếp xúc với đất mẹ để vượt thoát sự sợ chết
20g đến 20g 45 : Thiền sinh đặt câu hỏi với Sư Cô để được chỉ cách nào mà thấy người thân chưa bao giờ chết cả.
Tăng thân du mục,
Khóa tu mùa Hè bốn tuần lễ tại Làng Mai vừa kết thúc là Sư Ông và Tăng đoàn lại lên đường cho chuyến hoằng pháp chung quanh các nước châu Âu như Đức, Hòa Lan, Ý liên tục thêm sáu tuần lễ nữa trong khi Sư Ông đã hơn 86 tuổi rồi mà ngày nào cũng pháp thoại, không nói pháp thoại thì cũng dịch kinh, viết sách, chăn dắt đàn con xuất sĩ bảy tám trăm đứa, đã vậy còn viết thư pháp cho học trò bán lấy tiền nuôi các cháu nhỏ trong gần năm trăm lớp học Tình Thương ở Việt Nam. Thực lòng tôi rất lo ngại cho sức khỏe của Sư Ông và rất thường hay tự hỏi, với ngần ấy tuổi sức đâu mà Sư Ông lại làm việc khỏe đến như người trẻ cũng không theo kịp? Liên tục di chuyển từ bán cầu này qua bán cầu khác chênh lệch nhiều muối giờ ấy vậy mà chân vừa chạm đất là làm việc ngay tức thì. Trong khi rất nhiều cụ già ở tuổi ấy đã phải chống gậy, hoặc đã đi xe lăn rồi. Thắc mắc mãi mà không có câu trả lời, thét rồi tôi trộm nghĩ: chỉ có năng lượng từ bi, và tuệ giác mới đủ sức nhiệm mầu cho hành hoạt của Sư Ông mà thôi.
Biết Sư Ông và Tăng đoàn của Người đã tới Paris - chặn cuối của vòng hoằng pháp châu Âu ; Biết Tăng thân gần hai trăm vị xuất sĩ của Người cũng đã từ Làng Mai lên Thủ đô mấy ngày nay và đang cắm trại bên bờ sông Marne ... Vậy mà tôi cứ bị chôn chân trong sở làm không cách nào tới thăm được. Đã vậy, tối hôm qua còn đọc được tin nhắn của anh Long là ai có mền xin cho mượn vì quý thầy sư cô ở trại rất lạnh... Tôi đứng ngồi không yên, chỉ mong đến ngày nghỉ cuối tuần để được thăm Sư Ông và tất cả Tăng thân của Người.
Tôi đến nơi thì được tin là Sư Ông đã qua bên trại thăm các con bên đó rồi. Hay quá! tôi dong liền qua bên ấy. Trại nằm bên bờ sông Marne nước trong xanh rất nên thơ và yên tĩnh, có cỏ xanh, giậu kiểng cắt tỉa ngay hàng thẳng lối phân lập thành từng ô để cắm lều, có điện, nước đầy đủ do tòa thị chính quản trị cho thuê. Nghe đâu mình phải trả cho mỗi mặt bằng của một cái lều cho một người ở là 9€/ngày. Nếu ở thêm người thứ hai, thứ ba, tối đa là bốn người thì phải trả thêm cho mỗi người là 3€/ngày, vị chi 18€ cho bốn người ở một ngày. Có lẽ thấy quý thầy quý sư cô còn trẻ mà mặt người nào cũng sáng, lúc nào cũng cười, điệu bộ đi đứng nghiêm trang thanh thảng, nhứt là ăn nói rất dễ thương cho nên người có trách nhiệm Quản lý đã cho mượn mấy cái kều lớn làm kho chứa thực phẩm, làm khu nấu ăn. Tăng thân chia trại làm hai khu biệt lập, một khu dành cho chư Tăng và một khu dành cho chư Ni. Nơi này vài thầy đang chấp tác vệ sinh lều bếp, nơi kia một số sư cô kiểm điểm lương thực, nơi nọ chú tiểu ngồi thiền học kinh, xa xa một nhóm thầy đi thiền hành, ...


Chứng kiến cảnh tượng này, trong thoáng chốc, hình ảnh Tăng đoàn của Bụt tạm trú sinh hoạt trong những rừng cây trên những bước đường du hóa được Sư Ông thuật lại trong sách Đường Xưa Mây Trắng đã thành hiện thực trước mắt tôi. Nếu quý vị đã đọc sách Đường Xưa Mây Trắng sẽ hình dung được cảnh trí này ở đây trong ngày hôm nay không khác chi cảnh trí trong sách đã diễn ra cách nay 26 thế kỷ.

- Sư Ông ở bên này, chú qua đi. Tiếng gọi trả tôi về thực tại, quay người theo hướng âm thanh thì thấy cánh tay vẫy của một sư cô nhỏ ở phía bên kia hàng giậu... Hai thầy trò chào nhau bằng mắt vì cách nhau một quảng khá rộng. Tôi không ngờ Sư Ông gầy và sạm đi hơi nhiều so với lần gặp cuối cùng ở Làng Mai hôm kết thúc khóa tu mùa Hè. Nhưng không phải là cái gầy của người đau yếu mà là cái gầy gân guốc và đầy uy lực của một người năng động. Sư Ông nhìn tôi cười thật tươi, và bảo: "Trại của mình đẹp quá, vui quá, hạnh phúc quá phải không, ..." Sư Ông chưa dứt lời quý thầy, quý sư cô đang quây quần theo chân Sư Ông đã cất tiếng hát:
Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi đâu nữa
Có chi để làm
Học buông thả
Sống không vội vàng.
Ta hạnh phúc liền giây phút này
Lòng đã quyết dứt hết âu lo
Không đi cũng tới
Thấy chi cũng làm
Lòng thanh thản
Sống trong nhẹ nhàng.
Tôi tranh thủ lấy máy ghi lại khoảnh khắc tuyệt đẹp này.
Đưa sư bà Như Tuấn trở lại thiền đường Hơi Thở Nhẹ, tôi đi vòng ra phía sau tìm thăm quý thầy, vì nghe nói thiền đường đang có bốn mươi ba vị xuất sĩ tá túc nên thế nào cũng phải cắm lều đâu đó ở phía sau. Kia rồi, mấy thầy đang uống trà bên chiếc bàn dã chiến đặt dưới tàng cây, chung quanh là mấy cái lều. Vừa đưa máy lên ngắm chưa kịp bấm là tiếng thầy Minh Mẫn mời ra uống trà. Sau khi trao đổi vài câu thăm hỏi, một thầy đưa nhận xét: "Tăng thân mình sống như du mục, bây giờ đang ở đây, vậy mà biết đâu ngày mai lại nhổ trại qua Mỹ, sang Thái rồi đến Hongkong hay về Bordeaux, rồi lại qua Úc ... mà ở đâu cũng có rừng có núi để dựng trại ; ở đâu cũng có chúng sinh cho mình phục vụ ; đi đâu, ở đâu cũng có an lạc hạnh phúc thì còn mong cầu chi nữa." Thế là chúng tôi có đề tài so sánh giữa Tăng thân hôm nay với tăng đoàn thời Bụt tại thế bên Ân Độ không có gì khác nhau từ nội dung tới hình thức dù đã cách nhau tới hai ngàn sáu trăm năm. Với tôi, được gặp Sư Ông, được chuyện trò thăm hỏi Tăng thân, được chứng kiến cảnh tượng này đã là phúc đức lớn lắm rồi. Dễ gì có đủ duyên tiếp xúc được một Tăng thân tỉnh thức trong cái thế giới mênh mông đầy uyển hoặc này.
Tay trong tay
Phật tử Thái cúng dường Tăng thân Tin Tăng thân Làng Mai gần hai trăm vị xuất sĩ lên Paris cùng Sư ông Nhất Hạnh hoằng pháp đang cắm trại bên bờ sông Marne một nhóm Phật tử người Thái đã tới thăm hỏi và xin được cúng dường Tăng thân một ngày cơm. Nghe nói trong số họ có vài gia đình làm chủ nhà hàng ăn tại Trung tâm Paris đã quyết định đóng cửa tiệm ăn mấy ngày để nấu cơm chay mang tới tận trại và thiền đường Hơi Thở Nhẹ cúng dường Tăng thân. Mới 10 giờ sáng mà họ đã chở thức ăn tới tận nơi. Thấy họ ở trong lều tiếp khách cũng là nơi dùng làm phòng ăn nhưng tôi không có dịp tiếp xúc thăm hỏi, mà chỉ được chắp tay búp sen xá dài và sâu với niềm trân trọng và kính ngưỡng tâm từ bi và lòng tín mộ sáng đẹp ấy. Tuy nói là cúng hai trăm phần ăn mà lượng cơm, thức ăn, bánh trái họ mang tới có thể dành cho ba trăm người ăn cũng không hết.
Những bàn tay Bồ Tát Chiều hôm trước ngày bắt đầu Pháp thoại vừa về tới nhà là được tin từ anh Long kêu cứu là trời đổ lạnh bất thường các thầy cô ai cũng bịnh vì ngủ không đủ ấm, ai có dư mền, túi ngủ xin mang tới trại cho mượn. Trời ơi, tôi ở xa quá lại mới đi làm về tới làm sao giúp được gì, mà nhà cũng chỉ dư được có vài cái túi ngủ trong khi Tăng thân có tới một trăm bảy mươi vị lấy đâu ra ngần ấy mền. Tức tốc phôn hỏi thăm thì được chị Ngọc Anh cho biết là anh Long đang trên đường chở mền tới trại, tôi mừng quá! Sao anh này hay quá vậy, tìm đâu ra ngần ấy mền mà mau vậy. Chị Ngọc Anh nói làm sao đủ được, tụi này quơ hết cả nhà, hỏi thêm hàng xóm được đâu chừng vài chục cái thôi. Ngoài ra bên anh Vũ cũng đang đi gom có lẽ cũng được thêm mấy chục cái nữa chắc cũng đang trên đường tới trại đó. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những vị Bồ Tát đã hết lòng lo cho Tăng thân. Các anh chị Tăng thân cư sĩ người Việt nhận lo ẩm thực, chuyên chở, di chuyển cho Tăng đoàn thức khuya dậy sớm rất cực nhọc vậy mà ai cũng vui vẻ hạnh phúc, lúc nào cũng cười thật tươi. Khó nhứt là vụ chủ xe cars đưa đón một trăm bảy chục vị xuất sĩ từ trại đi Paris-La Défense đòi lên giá vào giờ chót, mà phải chi họ đòi một vài trăm mình cũng có thể chịu được, đàng này họ đòi tới cả nghìn bạc gây sốc cho nhiều người, nhất là anh Long và sư cô Đào Nghiêm là hai người có trách nhiệm trực tiếp.
Quyết định sau cùng là đành phải dùng đường xe điện ngầm, và huy động xe con của Phật tử. Thế nhưng việc đâu lại vào đó, chỉ trước giờ khởi hành có vài ba tiếng đồng hồ phía chủ xe gọi lại là họ đồng ý và chỉ xin thêm một trăm € thôi. Âu cũng là một phép lạ! Bên cạnh đó còn có các anh, các chị, các cháu như: Nhóm trẻ Wake Up Paris mà chủ chốt là Quỳnh Hương, Quỳnh Lan ; Nhóm cư sĩ OI do chị Minh Tri, chị Châu Francine, Michelle Pillot ; Sangha Marseille ; Nhóm UBF (Liên Hiệp Phật Giáo Pháp) ; Gia đình Jardin de l’Instant và Toàn thể Tăng thân cư sĩ nói tiếng Pháp. Mỗi nhóm một tự nhận một trách nhiệm, một bộ phận trong bộ máy vận hành. Tất cả đều thể hiện tinh thần Bồ tát, một tình huynh đệ gắn kết thành một cơ thể, mỗi cá nhân là một tế bào của Tăng thân tỉnh thức.

 Chân Nghiêm & Lê NguyênNguồn link: http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/TDTS_8/8_divaochanhniem.htm

C